MỤC
LỤC
Vài
nét về dịch giả
Lời
Giới Thiệu
Phần
1
Tắc
thứ Nhứt: Cái Trống Không Của Đạt Ma
Tắc
thứ Nhì: Đạo Vô Nan Của Triệu Châu
Tắc
thứ Ba:Mã Sư Bất An
Tắc
thứ Tư: Đức Sơn Mang Bao Hành Trang
Tắc
thứ Năm: Hạt Gạo Của Tuyết Phong
Tắc
thứ Sáu: Một Ngày Đẹp Của Vân Môn
Tắc
thứ Bảy: Huệ Siêu Hỏi Về Phật
Tắc
thứ Tám: Thúy Nham Dạy Đồ Chúng Cuối Hạ
Tắc
thứ Chín: Bốn Cửa Của Triệu Châu
Tắc
thứ Mười: Ba Tiếng Hét Của Mục Châu
Phần
2
Tắc
thứ Mười Một: Kẻ Uống Cặn Rượu Của Hoàng Bá
Tắc
thứ Mười Hai: Ba Cân Gai Của Động Sơn
Tắc
thứ Mười Ba:Chén Bạc Của Ba Lăng
Tắc
thứ Mười Bốn: Một Lời Đúng Của Vân Môn
Tắc
thứ Mười Lăm:Một Câu Nói Ngược Của Vân Môn
Tắc
thứ Mười Sáu: Người Trong Cỏ Của Kính Thanh
Tắc
thứ Mười Bảy: Hương Lâm Ngồi Lâu
Tắc
thứ Mười Tám: Túc Tông Thỉnh Pháp
Tắc
thứ Mười Chín: Ngón Tay Thiên Của Câu Chi
Tắc
thứ Hai Mươi: Long Nha và Ý Của Tổ Sư Từ Tây Thiên Qua
Phần
3
Tắc
thứ Hai Mươi Mốt: Hoa Sen Của Trí Môn
Tắc
thứ Hai Mươi Hai: Con Rắn Mũi Rùa Của Tuyết Phong
Tắc
thứ Hai Mươi Ba: Diệu Phong Đỉnh Của Bảo Phúc
Tắc
thứ Hai Mươi Bốn: Qui Sơn Và Lưu Thiết Ma
Tắc
thứ Hai Mươi Lăm: Liên Hoa Trụ Trượng
Tắc
thứ Hai Mươi Sáu: Bác Trượng Ngồi Một Mình Trên Đỉnh
Đại Hùng
Tắc
thứ Hai Mươi Bảy: Thể Lộ Kim Phong Của Vân Môn
Tắc
thứ Hai Mươi Tám: Chư Thánh Của Niết Bàn Hòa Thượng
Tắc
thứ Hai Mươi Chín: Hỏa Kiếp Của Đại Tùy
Tắc
thứ Ba Mươi: Củ Cải Của Triệu Châu
Phần
4
Tắc
thứ Ba Mươi Mốt: Ma Cốc Chống Gậy
Tắc
thứ Ba Mươi Hai: Phật Pháp Đại Ý Của Lâm Tế
Tắc
thứ Ba Mươi Ba: Trần Thượng Thư Viếng Từ Phúc
Tắc
thứ Ba Mươi Bốn: Ngưỡng Sơn Hỏi Từ Đâu Đến
Tắc
thứ Ba Mươi Lăm: Văn Thù và Vô Trước
Tắc
thứ Ba Mươi Sáu: Trường Sa Một Hôm Đi Chơi Núi
Tắc
thứ Ba Mươi Bảy: Tam Giới Vô Pháp Của Bản Sơn
Tắc
thứ Ba Mươi Tám: Trâu Sắt Của Phong Huyệt
Tắc
thứ Ba Mươi Chín: Kim Mao Sư Tử Của Vân Môn
Tắc
thứ Bốn Mươi: “Giống Như Mộng” Của Nam Tuyền
Phần
5
Tắc
thứ Bốn Mươi Mốt: Người Chết Lớn Của Triệu Châu
Tắc
thứ Bốn Mươi Hai:Từng Phiến Tuyết Của Bàng Cư Sĩ
Tắc
thứ Bốn Mươi Ba: Không Nóng Không Lạnh Của Động Sơn
Tắc
thứ Bốn Mươi Bốn: Hòa Sơn Biết Đánh Trống
Tắc
thứ Bốn Mươi Lăm: Vạn Pháp Qui Nhất Của Triệu Châu
Tắc
thứ Bốn Mươi Sáu: Tiếng Mưa Rơi Của Kính Thanh
Tắc
thứ Bốn Mươi Bảy: Sáu Không Thu Của Vân Môn
Tắc
thứ Bốn Mươi Tám: Vương Thái Phó Nấu Trà
Tắc
thứ Bốn Mươi Chín: Tam Thánh Lấy Gì Để Ăn
Tắc
thứ Năm Mươi: Trần Trần Tam Muội Của Vân Môn
Phần
6
Tắc
thứ Năm Mươi Mốt: “Cái Gì Đây” Của Tuyết Phong
Tắc
thứ Năm Mươi Hai: Cầu Đá Của Triệu Châu
Tắc
thứ Năm Mươi Ba: Vịt Trời Của Mã Đại Sư
Tắc
thứ Năm Mươi Bốn: “ Mới Ở Đâu Tới” Của Vân Môn
Tắc
thứ Năm Mươi Lăm: Đạo Ngô Và Tiệm Nguyên Đi Điếu Tang
Tắc
thứ Năm Mươi Sáu: Một Mũi Tên Phá Ba Ải Của Vân Môn
Tắc
thứ Năm Mươi Bảy: Chí Đạo Vô Nam Của Triệu Châu
Tắc
thứ Năm Mươi Tám: Triệu Châu Và Khuôn Sáo Thời Thượng
Tắc
thứ Năm Mươi Chín: Triệu Châu Và Đừng So Đo
Tắc
thứ Sáu Mươi: Cây Gậy Của Vân Môn
Phần
7
Tắc
thứ Sáu Mươi Mốt: Một Hạt Bụi Của Phong Huyệt
Tắc
thứ Sáu Mươi Hai: Viên Ngọc Của Vân Môn
Tắc
thứ Sáu Mươi Ba: Nam Tuyền Giết Mèo
Tắc
thứ Sáu Mươi Bốn: Nam Tuyền Hỏi Triệu Châu
Tắc
thứ Sáu Mươi Lăm: Ngoại Đạo Hỏi Phật Về Hữu Vô
Tắc
thứ Sáu Mươi Sáu: Nham Đầu Và “Từ Đâu Tới”
Tắc
thứ Sáu Mươi Bảy: Lương Vũ Đế Mời Giảng Kinh
Tắc
thứ Sáu Mươi Tám: Ngưỡng Sơn Hỏi Tam Thánh
Tắc
thứ Sáu Mươi Chín: Nam Tuyền Bái Trung Quốc Sư
Tắc
thứ Bảy Mươi :Qui Sơn Đứng Hầu Bách Trượng
Phần
8
Tắc
thứ Bảy Mươi Mốt: Bách Trượng Và không Với Cổ Họng
Với Miệng Môi
Tắc
thứ Bảy Mươi Hai: Bách Trượng Hỏi Vân Nham
Tắc
thứ Bảy Mươi Ba: Tứ Cú Bách Phi Của Mã Đại Sư
Tắc
thứ Bảy Mươi Bốn: Kim Ngưu Hòa Thượng Cười Ha Ha
Tắc
thứ Bảy Mươi Lăm: Ô Cữu Hỏi Pháp Đạo
Tắc
thứ Bảy Mươi Sáu: Đan Hà Hỏi Từ Đâu Tới
Tắc
thứ Bảy Mươi Bảy: Bánh Của Vân Môn
Tắc
thứ Bảy Mươi Tám:Mười Sáu Bồ Tát Đi Tắm
Tắc
thứ Bảy Mươi Chín:Tất Cả Các Âm Thanh Của Đầu Tử
Tắc
thứ Tám Mươi: Hài Từ Thức Của Triệu Châu
Phần
9
Tắc
thứ Tám Mươi Mốt:Dược Sơn Bắn Nai
Tắc
thứ Tám Mươi Hai: Kiên Cố Pháp Thân Của Đại Long
Tắc
thứ Tám Mươi Ba: Cổ Phật Và Cột Trụ Của Vân Môn
Tắc
thứ Tám Mươi Bốn: Bất Nhị Pháp Môn Của Duy Ma cật
Tắc
thứ Tám Mươi Lăm:Con Cọp Của Đồng Phong Am Chủ
Tắc
thứ Tám Mươi Sáu: Quang Minh Của Vân Môn
Tắc
thứ Tám Mươi Bảy: Bệnh Và Thuốc Trị Lẫn Nhau Của Vân
Môn
Tắc
thứ Tám Mươi Tám: Huyền Sa Tiếp Vật Lợi Sinh
Tắc
thứ Tám Mươi Chín: Tay Và Mắt Của Đại Bi Bồ Tát
Tắc
thứ Chín Mươi: Bát Nhã Thể Của Trí Môn
Phần
10
Tắc
thứ Chín Mươi Mốt: Tê Giác Của Diêm Quan
Tắc
thứ Chín Mươi Hai: Thế Tôn Một Hôm Thăng Tòa
Tắc
thứ Chín Mươi Ba: Đại Quang Sư Nhảy Múa
Tắc
thứ Chín Mươi Bốn: Thấy Cái Không Thấy Trong Kinh Lăng Nghiêm
Tắc
thứ Chín Mươi Lăm: Tam Độc Của Trường Khánh
Tắc
thứ Chín Mươi Sáu: Ba Chuyển Ngữ Của Triệu Châu
Tắc
thứ Chín Mươi Bảy: Kim Cương Kinh Khinh Tiện
Tắc
thứ Chín Mươi Tám: Hai Cái Sai Của Thiên Bình Hòa Thượng
Tắc
thứ Chín Mươi Chín: Thập Thân Điều Ngự Của Túc Tông
Tắc
thứ Một Trăm: Kiếm Sắc Của Ba Lăng
VÀI
NÉT VỀ DỊCH GIẢ
H.T.Thích
Mãn Giác, sanh năm Kỷ Tỵ tại Cố Đố Huế. Nguyên quán Làng
Phương Lang, Quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Xuất gia nhập
đạo năm 11 tuổi. Thọ Đại Giới năm 1948 cùng một lần
với Hòa Thượng Thiện Siêu, cố Hòa Thượng Thiện Minh, cố
Hòa Thượng Thiên Ân…
Về
Giáo Dục:
-Tốt
nghiệp Đại Học Phật Giáo tại Phật Học Đường Báo Quốc
Huế 1952.
-Du
học Tokyo Nhựt Bổn 1960.
-Đỗ
văn bằng Cao Học Văn HỌc toyo University, Tokyo,1962.
-Tùng
học ban Cao Học Triết Học Ấn Độ (Faculty of Letters, University
of Tokyo) 1964-1965.
-Tốt
nghiệp Văn Học Bác Sĩ tại Toyo University 1968.
-Đỗ
Tiến Sĩ Triết Học, University of Oriental Studies 1979.
Về
Giáo Hội, Giáo Dục và Xã Hội:
-Giảng
Sư Hội Phật Học Lâm Đồng (Dalat) 1953.
-Hội
Trưởng Hội Phật Học Lâm Viên Dalat 55-60.
-Bộ
Giáo Dục tuyển dụng làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Saigon
và Huế cuối năm 1965.
-Hội
Trưởng Hội Bảo Tồn Cố Đố Huế 1973-1975.
-Tổng
Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên 1966-1969.
-Tổng
Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa 1969-1975.
-Khoa
Trưởng Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện
Đại Học Vạn hạnh 1965-1969.
-Phó
Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Đặc Trách Điều
Hành 1971-1975.
-Giáo
Sư Đại Học Văn Khoa Saigon và Huế 1965-1975.
Sinh
Hoạt Hiện Tại:
-Đồng
Tổng Thư Ký Hội Đồng Giáo Phẩm Lãnh Đạo GHPGVNTN tại
Hải Ngoại
-Hội
Viên Hội Đồng Quản Trị tái Thiết Vườn Lâm Tì Ni tại
Hoa Kỳ
-Hội
Viên Hội Đồng Tái Thiết Vườn Lâm Tì Ni của Hội Phật
Giáo Thế Giới.
-Chứng
Minh Đạo Sư của Buddhist Sangha Council of Southern California
-Viện
Chủ Giáo Hội PGVNTN tại Los Angeles
-Hội
Chủ Tổng Hội PGVN tại Hoa Kỳ
LỜI
GIỚI THIỆU
Thiền
tông thường được biết đến như một tông phái “ giáo
ngoại biệt truyền,bất lập văn tự, trực chỉ chơn tâm,
kiến tánh thành Phật.” Nhiều người thường hiểu
lầm tôn chỉ này và xem Thiền như một tông phái có tánh
cách phá chấp vượt thoát ngoài những khuôn khổ giáo thuyết
cũng như đường lối tu tập và nghi thức nền tảng chung
của truyền thống Đại Thừa. Sự thực thì, như một Thiền
Sư đã nói, Phật Pháp tuy có thể mang nhiều hình thức dị
biệt, để đáp ứng với những khung cảnh văn hóa và căn
cơ khác nhau của con người, nhưng dù bất cứ dưới hình
thức nào, Phật giáo cũng có một vị duy nhứt, đó là vị
của giác ngộ. Hơn nữa, tuy là nói “ bất lập văn tự”
trên thực tế văn học Thiền lại dồi dào như bất cứ văn
học của một tông phái nào khác trong Phật Giáo Đại Thừa.
Thiền Tông nhấn mạnh vào mặt kinh nghiệm cá nhân, nhắm
đưa từng con người chúng ta giáp mặt trực tiếp với
chân lý trong ngay chính hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta.
Nói cách khác, mục đích của Thiền là muốn cho mọi người
chúng ta phải tự thể nghiệm những chân lý trong kinh điển
và chuyển hóa chúng trong ngay đời sống thường nhựt của
mỗi chúng ta bằng chính mỗi con người chúng ta. Chính vì
thế mà Thiền nói rằng “ bình thường tâm tức là đạo”,
mà Lục Tổ Huệ Năng nói rằng con người phải chuyển Kinh
chứ không phải Kinh chuyển con người. Cũng chính vì thế
mà tuy rằng văn học Thiền phong phú cả về nội dung lẫn
hình thức, song hình thức thông dụng nhứt lại là những
ghi chép về những câu chuyện đối thoại, và những hành
động giữa các Thiền Sư mà thông thường được gọi là
Công Án.
Bộ
sách Bích Nham Lục được dịch ra ở đây là một thu
tập của một trăm công án sưu tập bởi Tuyết Đậu Trùng
Hiển (980-1052).Ngoài phần chính là những công án ra, Tuyết
Đậu còn làm những bài ca tụng và phụ thêm những lời ghi
chú để hướng dẫn các hành giả. Theo sách Ngũ Đăng Hội
Nguyên , Tuyết Đậu Trùng Hiển Thiền Sư vốn họ Lý, là
người phủ Toại Ninh, Minh Châu. Thoạt tiên xuất gia với
Nhân Tiễn Thượng Nhận ở chùa Phổ An. Sau khi thọ giới
cụ túc Sư miệt mài nghiên cứu và suy niệm những giáo lý
sâu xa trong Kinh điển. Chẳng baolâu nổi tiếng khắp nơi,
ai cũng nghĩ Sư đúng là bậc pháp khí ( có nghĩa là người
đủ khả năng để truyền Đạo Pháp). Sau đó, Sư lên đường
nam du. Đầu tiên đến gặp Trí Môn, Sưhỏi, “ Không khởi
lên bất cứ một niệm nào thì làm sao có lỗi lầm?” Trí
Môn bảo Sư bước đến gần, Sư vừa bước đến, Trí
Môn dùng phất trần đánh ngay vào miệng, Sư vừa định mở
miệng, Trí Môn lại đánh nữa, Sư hốt nhiên giác ngộ. Rồi
lên trú trì ở Thuý Phong, sau đó lại dời về núi Tuyết
Đậu. Một hôm sư đi chơi núi, ngắm cảnh khắp chung quanh
rồi quay lại hỏi thị giả,” Biết khi nào mới lại trở
lại nơi này nữa đây?” Thị giả buồn lắm, bèn xin kệ.
Sư nói, “ Bình sinh ta vốn đã sợ là mình nói quá nhiều
rồi.”Hôm sau, Sư đem tất cả tư cụ của mình ra phân phát
cho các đồ chúng rồi nói rằng, “ Ngày mồng bảy tháng
bảy sẽ gặp lại.” Đến ngày đó, sư tắm rửa sạch sẽ,
đắp y đầy đủ rồi quay về hướng bắc mà mất. Đồ chúng
xây tháo đựng di thể của Sư ở phía tây của tự viện.
sư được tặng biệt hiệu là Minh Giác Thiền Sư.
Sáu
mươi năm sau khi Tuyết Đậu mất đi, Viên Ngộ Khắc
Cần (1063-1135) lại soạn thêm những lời giải thích về các
công án căn bản cùng những bài tụng của Tuyết Đậu. Cũng
theo sách Ngũ Đăng Hội Nguyên , Viên Ngộ Khắc Cần Thiền
Sư ( còn có hiệu là Phật Quả) họ lạc, gốc người Bành
Châu, vốn con nhà Nho. Thuở nhỏ đã thông minh dị thường,
mỗi ngày có thể học thuộc lòng đến hàng ngàn lời. Một
hôm đến chơi chùa Diệu Tích, trông thấy sách Phật, hốt
nhiên cảm thấy như tìm lại được vật cũ, tự nhủ, “
Kiếp trước ta là sa môn”. Rồi bỏ nhà cạo đầu xuất
gia, học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau. Một hôm bệnh
nặng gần chết, tự nghĩ, “ Con đường chánh lộ của niết
bàn của chư Phật không ở trong ngôn ngữ, mình cứ lo tìm
cầu bên ngoài thì chết cũng vô ích mà thôi.” Bèn đến
theo Chân Giác Thắng Thiền Sư. Chân giác chích máu trên tay
đưa cho Sư xem, nói, “Đây chính là một giọt Tào Khê.”
Sư lúng túng. Mãi lâu sau mới nói, “Té ra là như thế”.Sau
đó lại đến gặp Ngũ Tổ ( Pháp Diễn), vận dụng đủ mọi
tâm cơ, vẫn không được Ngũ Tổ chấp thuận. Sư phát giận
bỏ đi. Ngũ Tổ nói, “Để khi nào ông bị sốt một trận
kịch liệt rồi ông mới nghĩ đến tôi.” Sư đến Kim Sơn
bị đau thương hàn kịch liệt, suốt ngày nỗ lực mà cũng
chẳng làm được gì, mới nghĩ đến lời của Ngũ Tổ, bèn
phát thệ rằng khi lành bệnh thế nào cũng trở về với Ngũ
Tổ. Ngũ Tổ trong thấy vui mừng lắm, bèn cho vào tham kiến
và cho làm thị giả. Ngũ Tổ thường nói khắp với các bậc
kỳ cựu trong Thiền rằng “ Thị giả của tôi tham Thiền
chứng đắc rồi.” Cho nên đến đâu ư cũng được tôn làm
thượng thủ. Năm Thiệu Hưng thứ tám (1135) Sư hơi bệnh,
ngồi kiết già cầm bút viết kệ để lại cho đồ chúng,
viết xong ném bút mà hóa.Lúc thiêu, lưỡi và răng vẫn còn
nguyên, nhục thân thì biến thành xá lợi ngũ sắc. Sư có
thụy là Chân Giác Thiền Sư.
Những
công án, những bài tụng của Tuyết Đậu cùng với những
lời mở đầu, ghi chú và bình giải của Viên Ngộ được
lưu truyền lại cho chúng ta dưới cái tên Bích Nham Lục (hay
Bích Nham Tập ).Bộ sách này có thể nói là bộ sách căn bản
và thiết yếu nhất của văn học Thiền.
Tóm
lại, nội dung của bộ Bích Nham Lục gồm một trăm tắc công
án, mỗi tắc lại gồm những thành phần như sau:
THÙY:
Tức những lời dẫn vào công án của Viên Ngộ. Những lời
dẫn này tuy giản dị song rất quan trọng vì chúng nêu lên
những mấu chốt chình để đi vào một công án đặc thù
nào đó.
CỬ
(Công Án): Tức là phần chính yếu gồm những lời đàm thoại
giữa các Thiền Sư hay những lời giảng của một Thiền Sư
nào đó được rút tỉa từ truyền thống Thiền hay từ những
nguồn văn học Phật giáo khác. Phần công án này do Tuyết
Đậu sưu tập.
BÌNH
( Bình Xướng): tức những lời bàn rộng thêm của Viên Ngộ
về bài tụng của Tuyết Đậu. Trong phần Bình Xướng này
Viên Ngộ đôi khi dẫn điển tích để giải thích những thành
ngữ đặc biệt nào đó hoặc dẫn giải Kinh văn để cung
ứng cho người học bối cảnh lịch sử hay giáo lý của một
câu chuyện đặc biệt nào đó.
TỤNG:
Tức lời bình xướng gọn bằng văn vần của chính Tuyết
Đậu. Giữa những lời tụng cũng có xen kẽ những lời ghi
chú của Viên Ngộ.
CHÚ:
Tức phần ghi chú của Viên Ngộ về những điểm đặc thù
nào đó trong công án. Trong nguyên bản Hoa Ngữ, những lời
ghi chú này được in bằng chữ nhỏ xen kẽ giữa nhnữg lời
của công án.
Bản
dịch Việt Ngữ mà bạn đọc đang cầm trên tay đây là bản
dịch trọn vẹn tất cả một trăm tắc công án chỉ ngoại
trừ những lời ghi chú nhỏ xen kẽ gữa các công án và những
lời ghi chú xem kẽ giữa những lời tụng. Dịch giả nghĩ
rằng những lời Bình Xướng của Viên Ngộ tức những lời
bàn rộng cũng đủ là những hướng dẫn ích lợi giúp cho
người học suy niệm về ý nghĩa của các công án. Nguyên
bản của bộ Bích Nham Lục đã được xuất bản rất nhiều
lần ở Trung Hoa cũng như Nhựt Bản. trong khi phiên dịch tôi
dùng làm tại liệu chính bộ Tiêu Chú Bích Nham Lục của Cổ
Phương Thiền Sư. Từng có cơ hội duyệt qua nhiều ấn bản
khác nhau của bộ sách này, tôi nhận thấy ấn bản của Cổ
Phương Thiền Sư với những ghi chú đầy đủ về các khía
cạnh ngôn ngữ cũng như lịch sử có thể nói là một trong
những ấn bản ích lợi nhứt. Ngoài ra tôi cũng so sánh với
bản Bích Nham Lục Hiệu Đính ấn hành bởi học giả Nhựt
Bản Ito Yuten ( Y Đằng Du Điển). Khi có dị biệt giữa hai
văn bản tôi đều nêu ra trong phần chú thích và dựa theo
bản nào mà tôi nghĩ là đúng hơn.
Trong
khi phiên dịch, ngoại trừ tham khảo những bản chú giải
bằng Nhựt ngữ của các học giả Nhựt Bản tôi cũng có
được cơ hội đọc các bản dịch ra ngôn ngữ Tây Phương.
Theo như tôi biết thì từ trước đến nay có ba bản dịch,
hai bản ra Anh ngữ và một bản ra Đức ngữ: [1] The Blue Cliff
Record: Heikigan Roku. London, 1961, dịch bởi R.D.M.Shaw (2) The Blue
Cliff Record dịch bởi Thomas và J.C.Cleary gồm ba cuốn do nhà
Shambala xuất bản vào năm 1977.(3) Bi lần Yu,Meister Yuân-Wu’s
Niederschrift von der Smaragdener Felswand dịch bởi Wihelm Gũndert
gồm ba cuốn xuất bản năm 1961,1967 và 1971 bởi nhà xuất
bản Carl Hanser. Ba bản dịch ra Đức Ngữ này chỉ mới tới
tắc thứ sáu mươi tám.
Đọc
những bản dịch trên tôi nhận thấy bản dịch của Shaw đầy
những lỗi lầm và hoàn toàn vô ích. Nhờ Ni –sư Prabhasa
Dharma Midwer ( Thích Minh Pháp) giúp, qua bản dịch Đức ngữ
của Gundert tôi đã hiểu được những chú giải rất cặn
kẽ và bác học. Tuy nhiên, theo ý tôi lối “ dịch giải thích”
của Gundert đôi khi đâm ra quá rườm rà và xa vời ý của
nguyên tắc.Trong một số trường hợp đặc thù nào đó, thú
thực tôi không hiểu tại sao Gundert lại dịch như vậy. Tuy
nhiên, tôi nghĩ thì đây là bản dịch khá nhứt trong ba bản
dịch kể trên, đáng tiếc là bản dịch chỉ hơn được một
nửa. Hơn nửa, bản dịch lại bằng Đức ngữ không phải
là một ngôn ngữ quen thuộc lắm đối với độc giả Việt
Nam. Về bản dịch của Thomas và J.C.Cleary, nếu như chúng ta
chỉ đọc bản Ang ngữ không thôi thì phải nói đây là bản
dịch rất thông suốt, lời văn rất giản dị trong sáng. Tuy
nhiên, lúc đó với nguyên tác Hán văn, chúng ta không khỏi
nhận thấy có những sai lầm đáng tiếc. Những sai lầm mà
hai dịch giả này phạm phải thường là vì họ không được
quen thuộc lắm với những thuật ngữ của Thiền hoặc với
những thuật ngữ mà Thiền sư dùng song lại được rút ra
trong văn học Trung hoa mà người ta chỉ có thể hiểu được
nếu biết nguồn của chúng. Tôi chỉ xin nêu ra đây một vài
ví dụ: trong tắc mười hai ở phần Bình Xướng của Viên
Ngộ có nêu ra cuộc đàm thoại giữa Vân Môn và Động Sơn.
Vân Môn nói, “ Phạn đại tử, Giang Tây Hồ Nam Tiện nhậm
ma khứ”. Thomas và J.C.cleary dịch là “ You rice bag! From Kiangsi
to Human, and still you go on this way.”( Vol.I.các trang 84,123) Hiển
nhiên hai dịch giả này xem chữ khứ trong câu văn trên là
một động từ. Song bất cứ ai quen thuộc với văn học Thiền
cũng đều biết rằng chữ khứ trong thành ngữ tiện nhậm
ma khứ đã tuyệt nhiên không phải là một động từ, và
thành ngữ ấy chỉ có nghĩa là “ chỉ như thế đấy”,
hoặc “ chỉ như thế mà thôi”. Trong lời bình xướng của
tắc thứ mười bốn Thomas và J.C.Cleary dịch thành ngữ “quang
tiền tuyệt hậu” là “prior to light and after annihilation.”
(Vol.I.trang 96; Vol, II,trang 421). Dịch như vậy là hoàn toàn
vô nghĩa lý. Thành ngữ này chỉ giản dị có nghĩa là “
Không từng có trước kia mà cũng sẽ không có sau này tựa
như thành ngữ “ không tiền khoáng hậu” trong ngôn ngữ
thường nhựt của chúng ta mà thôi. Lời thùy của tắc
thứ hai mươi hai mở đầu bằng câu “đại phương vô ngoại”,
Thomas và J.C.Cleary dịch là “ there nothing outside the great vastness”,
( Vol.I.trang144), trong khi thành ngữ này chỉ có nghĩa là “
rộng lớn đến mức không còn phương hướng.” Đây chỉ
là một vài trong vô số những lỗi lầm sơ đẳng trong bản
dịch này. Tôi nêu những lỗi lầm này không với dụng ý
phủ nhận công lao và sự đóng góp của hai dịch giả này,
mà chỉ muốn lưu ý các người học rằng bản dịch trên
tuyệt niên không phải là hoàn toàn đáng tin cậy.
Trong
ba năm phiên dịch bộ sách này chủ trương của tôi là
chú trọng sự chính xác hơn là sự bóng bẩy, bởi vì đây
là một tác phẩm về tư tưởng chứ không phải là một
tác phẩm thuần văn chương. Tuy nhiên trong lúc dịch những
bài tụng, tôi cũng vẫn cố gắng dịch ra văn vần hoặc ít
nhứt cũng cố giữ đúng như số với chữ với nguyên bản
hơn là dịch ra văn xuôi để cho người đọc vẫn thấy thuận
tai hơn. Bản dịch này, tiếp nối theo bản dịch Pháp Bảo
Đàn Kinh của tôi, được xem như thể một bước tiến thêm
nữa trong nguyện vọng muốn thực hiện cái công cuộc lâu
dài: thiết lập những tài liệu hữu ích cho những người
học Thiền. Nhận thấy bộ Bích Nham Lục với tầm quan trọng
lớn lao như thế mà chưa từng bao giờ được phiên dịch
ra tiếng Việt,cho nên tôi phát nguyện dịch bộ sách này ngay
sau Pháp Bảo Đàn Kinh. Trong tương lai nếu hoàn cảnh thuận
tiện, tôi sẽ lần lượt phiên dịch các tài liệu quan trọng
trong Văn học Thiền của Trung Hoa cũng như Việt Nam.
Đức
Phật có thể nói là vị giáo chủ bỏ ra nhiều thời gian
nhứt để thuyết giảng giáo lý của mình. Những lời thuyết
giảng trong suốt thời gian ấy (49 năm) luôn luôn nhằm thích
hợp với căn cơ của từng người nghe. Chính vì thế mà đức
Phật được ví như là một vị thầy thuốc giỏi biết tùy
bệnh cho thuốc. Sau khi đức Phật nhập niết bàn, giáo
lý của Ngài lan truyền đến nhiều nơi khác nhau, và được
giải thích, ít ra là dưới những biểu tượng và hình thức
khác nhau, để tùy nghi với những khung cảnh văn hoá khác
nhau. Từ đó mà nảy sinh ra nhiều tông phái khác nhau. Tuy nhiên
Thiền tông vẫn là một tông phái thịnh hành nhứt ở Trung
Hoa, Nhựt Bản cũng như Việt Nam. Kể từ khi Phật giáo mới
truyền vào Việt Nam cũng đã truyền vào dưới hình thức
của Thiền tông. Sở dĩ Thiền tông được thạnh hành và
ưa chuộng như thế cũng vì giáo lý Thiền nhấn mạnh sự
trực tiếp, giản dị (song không kém thâm sâu), nhấn mạnh
việc đạt được giác ngộ (bodhi) ngay trong những hoàn cảnh
đặc thù và thực tiễn của từng cá nhân.( Trên phương diện
thực tiễn, sở dĩ Thiền cũng thích hợp và gần gũi với
người Việt Nam hơn còn là về vấn đề ngôn ngữ nữa. Cũng
tựa như Phật giáo có ảnh hưởng không những đến đời
sống tâm linh mà còn cả đến ngôn ngữ của người Trung
Hoa, thì Phật giáo Thiền tông với gốc rễ lâu dài ở Việt
Nam cũng thể hiện được gẫy gọn hơn trong ngôn ngữ Việt
Nam, ít ra là hơn các tông phái Đại Thừa khác của Ấn Độ
đòi hỏi người tu học phải ít ra quen thuộc với nhnữg
ngôn ngữ Ấn Độ). Về mặt tâm linh thì đối với Thiền,
bất cứ hoàn cảnh hay cơ duyên nào cũng có thể trở thành
phương tiện thiện xảo (upaya-kausalya) để khai mở chúng vào
giác ngộ. Điều này đưa Thiền gần gũi phần nào với Tantra
của Tây Tạng. Chính vì thế mà Thiền, tuy rằng vẫn trung
thực với những giáo lý căn bản của Phật giáo Đại Thừa,
thường xử dụng những ngôn ngữ, hành động và phương thức
vượt ngoài giới hạn công ước. Nói như thế không có nghĩa
rằng Thiền là hoàn toàn phi lý (irrational) hoặc là một thứ
huyền hoặc thiên nhiên (nature mysticism) hay một thứ triết
lý cá nhân (personal philosophy). Nghiên cứu kỹ văn học Thiền,
hoặc một người học sau khi đọc kỹ bộ Bích Nham Lục này,
hẳn sẽ nhận thấy rằng Thiền cũng có những phương pháp,
những thuật ngữ đặc biệt của riêng nó, và những người
muốn học Thiền dĩ nhiên ít nhất cũng phải quen thuộc với
một số nguyên tắc và ngôn ngữ đặc thù của Thiền. Bộ
sách Bích Nham Lục này nhắm cung ứng những điều kiện dự
tiên này.
Do
đó tôi nhận thấy, một trong những điều quan trọng trong
việc xây dựng lại nền móng cho việc tu học Phật ở hải
ngoại là phiên dịch thêm những tài liệu mới về Thiền(
ngoài việc tái bản những tài liệu cũ) giúp cho người học
có tài liệu để dựa vào trong việc học hỏi. Tôi muốn
lưu ý những người học rằng những công án trong văn học
Thiền chỉ ghi lại cái cực điểm trong cuộc chiêm nghiệm
tâm linh lâu dài của một Thiền Sư hay một Thiền Sinh nào
đó. Vì thế mà những lời dạy trong các công án mới thoạt
đọc đều có vẻ hoàn toàn vô nghĩa lý, và hiển nhiên phải
như thế, đối với những người “ ngoại cuộc”. Song chúng
lại đầy ý nghĩa với những người đã chiêm nghiệm lâu
dài về một đề tài, nói đúng hơn là về một phương thức
đặc biệt nào đó để thể hiện Chân Lý, hoặc nói theo
Thiền, để thể hiện Phật Tánh của mình. Do đó, bộ sách
Bích Nham Lục này không hẳn chỉ là một bộ sách thuần
triết lý, đúng hơn đây là một bộ sách khai mở cho chúng
ta những thao thức, những suy niệm, những thành tựu, nói
tóm lại, những kinh nghiệm sống động nhứt, gần gũi nhứt
của các Thiền Sư trong tiến trình thực nghiệm tâm linh, thể
hiện giác ngộ.Bích Nham Lục lại cũng không phải là một
bộ sách để cho chúng ta ngấu nghiến một mạch từ trang
đầu đến trang cuối. Một trăm tắc công án này, đúng hơn,
là một trăm đề tài để Thiền sinh chiêm nghiệm. Đàng rằng,
cơ duyên và hoàn cảnh thì thiên sai vạn biệt đến vô lượng,
song Tuyết Đậu Thiền Sư đặc biệt sưu tập một trăm tắc
công án này như thể những cơ duyên tiêu biểu nhứt.
Điều
cuối cùng tôi muốn nói là nếu như bộ sách này đóng góp
được một phần nhỏ nào vào việc tu học cho những người
yêu chuộng Thiền thì nỗ lực của người dịch trong ba năm
qua kể như đã được tưởng thưởng xứng đáng. Ngoài ra,
nếu có sự nhầm lẫn nào trong việc chuyển dịch, kính mong
quý vị cao minh vui lòng chỉ giáo. Tôi xin bái tạ.
Los
Angeles, Đầu Mùa An Cư năm Mậu Thìn (30-5-88)
THÍCH
MÃN GIÁC
[1]
Dịch giả đã mất vào năm 1971
12-04-2000
Đọc
Thêm:
Bích
Nham Lục, HT. Thích Thanh Từ dịch