Phật
giáo du nhập vào Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh chưa lâu.
Tính từ năm 1698, khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh được
cử vào khai phá vùng đất phía Nam Tổ quốc, đến nay Phật
giáo đã đồng hành cùng với lưu dân trên vùng đất này
được hơn 300 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển
của mình, Phật giáo đã gắn bó với những thăng trầm của
lịch sử Thành phố, hoà nhập và ảnh hưởng sâu rộng đến
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đạo
đức, lối sống.
Với
vai trò, chức năng và những giá trị nhân văn sâu sắc của
mình, Phật giáo trở thành chỗ dựa trong đời sống văn hóa,
tinh thần của một bộ phận quần chúng. Các chuẩn mực của
đạo đức Phật giáo có tác dụng điều chỉnh hành vi, nhân
cách con người, ảnh hưởng tích cực đến quần chúng.
Đạo
lý truyền thống của người Việt Nam đã hình thành trong
hàng nghìn năm, qua đấu tranh trường kỳ của dân tộc để
tạo dựng và gìn giữ một đất nước có chủ quyền, có
văn hoá... cũng như tiếp thu các hệ tư tưởng từ các nền
văn minh khác, đặc biệt là Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo.
Những tư tưởng ấy được người dân mang theo và vận dụng
vào cuộc sống ngay từ những ngày đầu trên vùng đất mới
Gia Định. Trong từng ấy năm, Phật giáo đã tạo cho mình
một phong cách riêng, dần dần chiếm vị trí quan trọng trong
đời sống xã hội, ảnh hưởng khá lớn đến quan niệm sống,
chuẩn mực đạo đức đến phong tục tập quán, lễ hội
của người dân.
Ngoài
sự đa dạng về thành phần dân cư, chưa có vùng nào trên
đất nước mà Phật giáo lại mang sắc thái phong phú, đa
dạng như Phật giáo Nam Bộ nói chung và Phật giáo Thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng. Dần dần để tồn tại và phát triển,
Phật giáo đã thay đổi, thích ứng với người dân nơi đây
Phật giáo ngày càng gắn bó chặt chẽ giữa đạo với đời,
thể hiện tinh thần nhập thế cao, đặc biệt trong các hoạt
động xã hội và lao động sản xuất. Nhiều chùa ở thành
phố có đất ở ngoại thành dùng vào việc cấy lúa, trồng
đậu, rau xanh để tự túc lương thực. Các chùa còn nhận
đóng sách, làm nhang... tạo thêm kinh phí để dành một phần
chi phí cho bảo dưỡng, tu sửa, duy trì hoạt động của chùa,
phần còn lại dành hết cho hoạt động từ thiện. Đất trong
chùa ngày càng bị thu hẹp và bị lấn chiếm, nhưng nhà chùa
vẫn tận dụng số đất ít ỏi để trồng trọt, xây một
số phòng dùng vào việc chữa bệnh miễn phí và làm chỗ
nghỉ cho khách lỡ đường.
Với
tư tưởng từ bi, cứu khổ, chùa đã dang rộng vòng tay đón
các bác xe ôm, xích lô các bà bán hàng rong, các cháu bán báo,
vé số, đánh giày, ăn xin... vào nghỉ trưa ở ghế đá, dưới
bóng mát của các tán cây và họ thường được mời ăn bữa
cơm chay đạm bạc cùng với tăng ni trong chùa. Hình ảnh đó
đã trở thành quen thuộc với nếp sống thường ngày của
nhiều ngôi chùa, đặc biệt các ngôi chùa ở những nơi đông
dân cư. Nhiều người coi chùa là ngôi nhà thử hai của mình,
những ngôi chùa ấy trở thành nơi nghỉ ngơi, nơi chia sẻ
bớt những khó khăn của họ lúc thiếu thốn, ốm đau, căng
thẳng của cuộc sống đời thường.
Những
năm gần đây, đời sống kinh tế của người dân nâng cao,
tạo điều kiện cho nhiều người đi chùa lễ Phật thường
xuyên hơn. Ngoài cầu nguyện Phật ban phúc, phù hộ, người
dân còn quan tâm hơn tới việc nghe giảng giáo lý, giáo luật,
lễ nghi, tu tập đức hạnh. Các buổi nghe giảng giáo lý ngày
càng thu hút nhiều người, kể cả những người không phải
Phật tử. Để thấm nhuần đạo pháp, ngoài nghiên cứu giáo
lý qua sách vở thì việc nghe giảng trực tiếp là rất quan
trọng, bởi không phải ai nghiên cứu giáo lý qua sách vở
cũng có thể hiểu được, vì giáo lý Phật giáo rất uyên
thâm. Thông qua buổi nghe giảng, mọi người có thể hỏi tăng
ni những điều chưa hiểu. Các buổi giảng trang bị cho họ
những hiểu biết về giá trị đạo đức thể hiện trong
ngũ giới, thập thiện, lục độ... lấy Đức Phật làm gương
sáng, ghi khắc những giới răn ở trong lòng và thực hiện
nó trong đời sống, giúp ích cho bản thân, gia đình và xã
hội.
Phật
giáo chủ trương khuyến thiện, tránh ác, giữ tâm trong sạch,
cổ xúy hành vi công ích cứu tế, giúp người neo đơn, cơ
nhỡ, tàn tật, trẻ mồ côi, cho thuốc chữa bệnh... với
phương châm:
"Dù
xây chín bậc phù đồ,
Không
bằng làm phước cứu cho một người".
Đạo
Phật đã tạo được cảm tình, niềm tin và sự tôn trọng
của nhiều người dân. Đến nay, hầu hết chùa của Thành
phố đều có phòng thuốc Đông y - Nam y từ thiện chữa bệnh
miễn phí. Các tuệ tĩnh đường, trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết
tật, cô nhi viện lần lượt ra đời. Các hoạt động cứu
trợ đồng bào bị thiên tai, xoá đói giảm nghèo, xây nhà
tình nghĩa, trường học, trạm y tế diễn ra thường xuyên
trong những năm qua thật sự có ý nghĩa sâu sắc, xuất phát
từ tư tưởng đại từ đại đức, từ bi, cứu khổ, cứu
nạn của đạo Phật. Chỉ trong năm 2004, Phật giáo Thành phố
đã ủng hộ quỹ từ thiện với số tiền lên đến 47.041
triệu đồng (Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh,
2004). Đây là số tiền không nhỏ góp phần giải quyết phần
nào cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn.
Các
giá trị đạo đức của Phật giáo đã có ảnh hưởng không
ít tới môi trường sống của Thành phố Hồ Chí Minh, bởi
vì đạo Phật là tiếng nói của một con người gửi tới
những con người khác, để cùng giúp nhau vượt qua những
khó khăn trong cuộc sống. Vì thế, đạo Phật mang tính xã
hội và đạo đức rất cao. Phật giáo không chỉ dừng lại
ở công việc chia sẻ những khó khăn của xã hội như hòa
bình, thịnh vượng, công bằng, mà còn hướng mọi người
lấy điều thiện làm chuẩn mực sống, làm phương tiện và
mục đích để đạt tới hạnh phúc cho con người. Với quan
niệm nhân quả và nghiệp báo "gieo nhân nào thì gặt quả
ấy", kiếp trước làm nhiều điều ác thì kiếp sau sẽ bị
báo ứng (ác giả ác báo), các tăng ni, Phật tử đã không
ngừng “gieo nhân lành để gặt quả tốt" bằng những việc
làm hữu ích, góp phần vào sự ổn định, phát triển của
Thành phố.
Cùng
với sự phát triển của kinh tế, một loạt hiện tượng
tiêu cực cũng xuất hiện, như nghiện hút, cướp giật, trộm
cắp, lừa đảo. Nhiều tăng ni, Phật tử cùng với nhân dân
không sợ khó khăn, nguy hiểm vẫn đến tận cùng ngõ hẻm
của các gia đình có con em lầm lỡ để giáo dục, thăm hỏi,
động viên, tặng quà. Những nghĩa cử cao đẹp mang nặng
triết lý nhân sinh ấy giúp nhiều con người lầm lỡ, đau
khổ được an ủi, động viên, hướng thiện.
Trong
làm ăn kinh tế, một số người vì sự lôi cuốn của đồng
tiền muốn làm ít hường nhiều, muốn làm giàu nhanh chóng,
đã bất chấp thủ đoạn, coi thường pháp luật chà đạp
nghiêm trọng tới đạo đức, lối sống truyền thống. Với
quan niệm tiêu dùng của cải vật chất hợp lý, không quá
coi trọng tài sản đến mức trở thành nô lệ của nó, không
ăn của người, cuộc sống an vui giải thoát chỉ đạt được
khi con người đạt được chân thiện mỹ, hạnh phúc của
người này có được không phải bằng cách giẫm đạp lên
hạnh phúc của người khác, phải đem an vui đến cho mọi
người, Phật giáo đã phần nào tác động tốt tới nhân
cách, lối sống các tín đồ.
Vào
những ngày rằm, mồng một, những ngày lễ tết, hay những
ngày đại lễ Phật Đản, Vu Lan (được tổ chức ở chùa
Vĩnh Nghiêm và nhiều chùa khác hàng năm), đông đảo khách
thập phương với đủ mọi thành phần đã quy tụ về chùa.
Thông qua các đại lễ, họ cảm thấy gắn bó với nhau hơn,
tình yêu quê hương đất nước được khơi dậy (ân đất
nước), nhớ ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã có công nuôi
lớn, dưỡng dục mình (ân cha mẹ).
"Công
cha nhu núi Thái Sơn,
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một
lòng thờ mẹ kính cha,
Cho
tròn chữ hiếu mới là đạo con".
Những
câu ca dao trên mang đậm tư tưởng Phật giáo. Các lễ hội
ấy giúp cho các tín đồ Phật tử và người dân nâng cao
tình yêu thương đồng loại, nảy nở đức hy sinh, lòng vị
tha, vun đắp lòng hiếu kính với tổ tiên, ông bà, cha mẹ,
thầy cô... mang ý nghĩa giáo dục rất lớn (Trần Hồng Liên,
2004).
Con
người Thành phố Hồ Chí Minh là sản phẩm của nhiều hoàn
cảnh, hội tụ nhiều tư tưởng, tôn giáo khác nhau khá đa
dạng. Nhưng ở họ vẫn có điểm chung trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ các vị anh hùng dân tộc.
Đa số trong nhà mỗi người dân đều có bàn thờ cúng tổ
tiên đặt ở vị trí trang trọng, dưới góc nhà là thờ thần
Tài, ông Địa, trước cửa nhà thờ Thiên. Khi trong nhà có
người qua đời, nhiều gia đình không phải là Phật tử vẫn
làm lễ cầu siêu cho người chết trước khi đem chôn. Nếu
thiêu, họ gửi một phần tro lên chùa để thờ cúng, chứng
tỏ dấu ấn rất sâu đậm của Phật giáo. Ngoài ra, những
người chết bất đắc kỳ tử, không có nguồn gốc, khi thiêu
xong cũng được chùa tiếp nhận để gửi thác những linh
hồn không có nơi nương tựa, điều này thể hiện giá trị
nhân văn sâu sắc.
Phật
dạy đệ lử nên sống giản dị để loại trừ lòng tham,
ăn, mặc, ngủ không được quá thừa thãi. Phật giáo không
chủ trương con người phải sống nghèo đói, thiếu thốn,
mà khuyến khích tiết kiệm, nếu hưởng thụ vật chất quá
cao không có chừng mực sẽ làm cho tinh thần người ta trở
nên nhu nhược. Ghi nhớ lời Phật dạy, đa số tăng ni ăn
mặc gọn gàng, sạch đẹp, nhưng vẫn giữ được sự giản
dị cần thiết. ăn uống cũng đạm bạc tiết kiệm. Lời
nói nhỏ nhẹ, từ tốn, chân thật. Những biểu hiện ấy
là tấm gương sáng cho tín đồ noi theo, tác động tích cực
tới suy nghĩ và hành vi của mọi người.
Lấy
con người là trung tâm, thấy được nỗi khổ của chúng sinh
và mong muốn chúng sinh thoát khỏi vòng trầm luân biển khổ.
Bằng chủ trương cứu nhân độ thế, từ bi, hỷ xả, vô
ngã, vị tha, đạo Phật hướng con người tu tập nhân tâm,
vượt qua mọi cám dỗ để hoàn thiện dần nhân cách. Những
chuẩn mực trong giá trị đạo đức của Phật giáo mang tính
triết lý nhân văn sâu sác ngoài việc hoàn chỉnh đạo đức,
nó còn ăn sâu vào suy nghĩ, hành vi, lối sống của mỗi người
dân, góp phần vào việc giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền
thống. Vì vậy, Nghị quyết 24-NQ/TW năm 1990 của Bộ Chính
trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới,
đã ghi rõ: "Đạo đức tôn giáo có nhiều phù hợp với công
cuộc xây dựng xã hội mới " (Đảng Cộng sản Việt Nam,
1990). Như vậy, Phật giáo đã ảnh hường tích cực tới đạo
đức, lối sống của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong
những năm qua.
Xưa
kia, trước khi nhập Niết Bàn, Phật tổ từng dặn dò đệ
tử không được bói toán, xem sao, xem tường làm mê hoặc
quần chúng. Nhưng một số kẻ lợi dụng chùa làm nơi bói
toán, lên đồng, xem sao, xem tướng, giải hạn... để kiếm
tiền bất chính. Trước cổng chùa bày bán đủ loại sách
tử vi, cúng sao, giải hạn không có nguồn gốc xuất xứ,
làm mê hoặc quần chúng. Lợi dụng lòng tốt của khách đến
chùa, một số người trẻ tuổi, lành lặn, khỏe khoắn, lười
lao động ngồi dọc lối vào chùa hành nghề ăn xin, níu kéo
làm mất lòng khách. Biểu hiện móc túi, lừa đảo khách bán
đồ giả có xu hướng gia tăng. Trong các ngôi chùa có trang
bị thùng rác, nhưng vẫn có người thiếu ý thức xả rác
bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường.
Những
năm gần đây, người đến chùa ngày càng đông. Đa số cử
chỉ nhã nhặn, ăn mặc trang nhã, thể hiện sự thành kính
ở chốn thiêng liêng. Nhưng vẫn có hiện tượng một số
người trang phục hở hang không phù hợp với cảnh chùa.
Vì
vậy để xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực như đã nêu,
khai thác những ảnh hưởng tích cực của Phật giáo tới
đạo đức, lối sống nhân dân, chính quyền và các cơ quan
chức năng cần có những biện pháp nhằm loại trừ các tệ
nạn trên, ổn định trật tự an toàn xã hội, giữ gìn sự
tinh khiết của Phật giáo.
Thân
Ngọc Anh
(Tạp
chí Khoa học xã hội)
Người
gửi bài: Diệu Tịnh
03-26-2007
