THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
.
AN NAM TÔNG HAY
NHỮNG NGÔI CHÙA VIỆT Ở THÁI LAN
Đỗ Thúy Hà (Tiwaree Kosittanakiat), giảng viên tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam, 
Bộ môn ngôn ngữ Phương Đông, trường Đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thailand
Hiếm người biết rằng, hơn 200 năm trước, tại Vương Quốc Thái Lan (tên lúc đó cò gọi là Siam) đã có những ngôi chùa Việt đầu tiên được lập nên để phục vụ cho cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại đây và được đông đảo người Thái biết đến như là những ngôi chùa của Annam-nikai hay An Nam tông. 

Nói đến Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài hay là nói đến các chùa Việt ở hải ngoại, người nước ngoài và các phật tử Việt nam thường hay nghĩ đến các chùa Việt ở Mĩ hay ở châu Âu. Điều này cũng dễ hiểu vì cùng với làn sóng những người Việt Nam di cư từ hồi chiến tranh thế giới thứ hai và sau giải phóng Miền nam, các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng bắt đầu được hình thành và biết đến rộng rãi. Cùng với việc thành lập các cộng đồng của mình để làm ăn sinh sống, các tín đồ phật tử cũng không quên quyên góp xây dựng nên các ngôi chùa Việt và thỉnh các vị cao tăng từ Việt nam sang để hành pháp. Đó cũng chính là truyền thống của Phật giáo Việt Nam. Nhưng hiếm người biết rằng, hơn 200 năm trước, tại Vương Quốc Thái Lan (tên lúc đó cò gọi là Siam) đã có những ngôi chùa Việt đầu tiên được lập nên để phục vụ cho cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại đây và được đông đảo người Thái biết đến như là những ngôi chùa của Annam-nikai hay An Nam tông. Tuy là những ngôi chùa theo Phật giáo Đại Thừa của Việt Nam nhưng các ngôi chùa của An Nam Tông đã chiếm được cảm tình của đông đảo phật tử Thái Lan cũng như cộng đồng Hoa kiều tại quốc gia Phật giáo này và đã được Vua Thái Lan Rama V chính thức công nhận là một trong hai tông phái Phật giáo nước ngoài duy nhất ở Thái Lan từ năm 1889. Hơn 200 năm qua, từ thời kì đầu tiên khi mới thành lập cho đến nay, An nam tông luôn nhận được những sự bảo trợ của các đời Vua Thái Lan và sự quan tâm kính trọng của nhân dân Thái. Một số nghi lễ của An nam tông đã trở thành một trong những nghi lễ không thể thiếu được trong các lễ tang của Hoàng cung (ví dụ như lễ Công Đức) và trong đời sống của người dân Thái (như lễ Cúng sao giải hạn, lễ Vu Lan…)

Tuy nhiên hiện nay rất ít người biết đến lịch sử  của những ngôi chùa Việt và nguồn gốc của An Nam Tông. Phần lớn người Thái biết đến chùa Việt và An Nam Tông như là đại diện của Phật giáo Việt Nam ở Thái Lan nhưng đối với phật tử ở Việt Nam, chùa Việt và các hình thức hành lễ của An Nam Tông hiện nay xem ra lại không mấy quen thuộc với Phật giáo ở Việt Nam bây giờ. Vậy để hiểu rõ hơn thực trạng này, bài viết xin giới thiệu về lịch sử phát triển của An Nam tông ở Thái Lan cũng như những nghiên cứu để đưa ra nguồn gốc của tông phái phật giáo này.

Sự di cư của người Việt Nam đến Thái Lan và những ngôi chùa  Việt đầu tiên ở Thái.

Cho tới nay chưa có văn bản chính thức nào của Thái Lan ghi chép về những cuộc di cư đầu tiên của người Việt đến sinh sống ở Thái Lan. Ghi chép được cho là xa xưa nhất của Thái cũng chỉ nói đến ghi chép về một ngôi chùa (hoặc nhà thờ) của một nhóm những người Việt sống ở bên ngoài thành Ayutthaya vào năm 1548 và được gọi là Wat Khun Yuon.[1] Sau đó vào thời Vua Narai Maharat (năm1656-1688), trong những ghi chép và một bản đồ của Simon De La Loubrère - Đại sứ thứ hai của Pháp ở Siam vẽ về thành phố Ayutthaya thì bên cạnh các cộng đồng người nước ngoài như Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Nhật…còn có một cộng đồng của những người Việt Nam theo thiên chúa giáo sống ở phía Tây Nam bên ngoài thành Ayutthaya gọi là trại của những người Cochinchina. Còn về lịch sử phát triển của Annam-nikai hay An Nam Tông trên đất Thái cũng có rất ít tài liệu ghi chép lại. Người Thái đầu tiên nghiên cứu và ghi chép về An nam tông ở Thái Lan là Hoàng tử Damrong Rachanuphap, một nhà sử học nổi tiếng của Thái Lan. Theo Hoàng tử Damrong Rachanuphap thì ngôi chùa Việt đầu tiên ở Thái Lan là Cam Lộ Tự (Wat Thipwawirihan) ở khu vực Ban Moo (nằm trong khu Chinatown của Băng Cốc). Đó là do đến cuối thể kỉ 18 vào thời triều đại Thonburi của Vua Taksin cũng là lúc ở Việt Nam nổ ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Do tình hình chiến tranh trong nước, một số gia nhân của nhà Nguyễn đứng đầu là Tôn Thất Xuân đã chạy trốn xuống Hà Tiên. Năm 1778, Vua Taksin của Siam cho quân sang đánh Hà Tiên và bắt tất cả đưa về Băng Cốc.  Tôn Thất Xuân và nhóm những người Việt đi theo đã lập nên một cộng đồng người Việt ở phía bờ Tây của sông Chaophaya (nay là khu vực Ban Moo, Pahurat thuộc khu Chinatown ở Băng Cốc ngày nay).  Mặc dù cuộc sống lưu lạc nơi đất khách quê người của Tôn Thất Xuân kết thúc không mấy tốt đẹp nhưng trong thời gian trú ngụ ở Băng Cốc, Tôn Thất Xuân và những người Việt cũng được Vua Taksin rất ưu ái. Vua Taksin đã cấp đất cho họ để làm ăn sinh sống.[2]   Sau cái chết của Tôn Thất Xuân, những người Việt đi theo bị chuyển ra sống bên ngoài thành Băng Cốc. Thời gian sau, vào thời vua Rama I, họ lại được chuyển vào sống ở chỗ cũ nhưng phần lớn đều chọn về sống ở khu vực BangPo của nhóm những người đi theo Nguyễn Phúc ánh. Vì vậy ngôi chùa này bị bỏ hoang. Sau này các vị tăng sư người Hoa đã đến ở và sát nhập vào Jin - nikai (Trung Hoa tông).

Ba năm sau, vào năm 1872, khi phong trào Tây Sơn đang nổi lên mạnh mẽ ở khắp nơi, Nguyễn Phúc ánh và các tay chân thân tín phải rút dần về đóng đô ở Sài Gòn sau đó chạy ra Đảo Phú Quốc và cuối cùng được đưa vào yết kiến vua Siam là Rama I.[3] Các tướng sĩ của Nhà Nguyễn sau khi biết tin Nguyễn Phúc ánh đang ở Băng Cốc cũng chạy theo sang Siam. Lúc đầu họ vào tỉnh Chanthaburi rồi sau đó mới dần dần vào Băng Cốc. Vua Rama I cho phép họ thành lập một cộng đồng, làm ăn sinh sống ở khu vực BangPo, Băng Cốc. ở đó ngôi chùa Việt thứ hai đã được dựng lên đó là chùa Quảng Phước (Wat Annamnikairam).[4] Tuy nhiên còn một số người Việt vẫn ở lại tỉnh Chanthaburi và thành lập nên cộng đồng người Việt khác ở đấy. Sau khi Nguyễn Phúc ánh về nước và lập nên triều Nguyễn vào năm 1802, việc bang giao với triều đình Siam vẫn giữ được tốt đẹp cho đến thời vua Minh Mạng và Thiệu trị tức là vào thời Vua Rama III của Thái Lan. Thời kì sau khi Nguyễn Phúc ánh về nước, cộng đồng người Việt ở Băng Cốc tiếp tục xây thêm hai ngôi chùa nữa đó là chùa Khánh Vân (Wat Upai Ratchabumrung) và chùa Hội Khánh (Wat Mongkol Samakhom) đều ở khu vực Chinatown. 

Tuy nhiên theo Peter A. Pool một nhà nghiên cứu về người Việt Nam ở Thái Lan thì ngôi chùa đầu tiên của người Việt ở Thái Lan là chùa Quảng Phước (Wat Annamnikairam) [5] do hai vị tướng của Nguyễn ánh cùng với số người Việt đã quyên góp và xây dựng lên năm 1787 chứ không phải là chùa Cam lộ và chùa Hội Khánh. Điều này cũng được nhiều vị Hoà thượng của An Nam tông công nhận như Hoà thượng Phổ Liên chủ tịch An Nam tông cũng đã từng khẳng định trong quyển Lịch sử về Annam-nikai[6] rằng ngôi chùa Việt đầu tiên của An Nam tông là chùa Quảng Phước được xây dựng vào thời kì vua Rama I (1782-1809). Nhưng khi được hỏi lí do tại sao phần lớn các sách của chùa vẫn dùng tư liệu của Damrong Rachanuphap thì câu trả lời là vì ông là một nhà nghiên cứu nổi tiếng của Thái nên sử dụng sách của ông thì xem ra được tin cậy hơn. Hơn nữa vì từ đầu thế kỉ 19 số sư người Việt ở các chùa bắt đầu giảm đi và ngày càng ít người quan tâm đến nguồn gốc của An Nam Tông. Nếu phân tích về mặt thực tế thì mục đích đến Thái Lan của Tôn Thất Xuân và Nguyễn ánh chỉ là để lánh nạn và chờ đợi cơ hội quay lại phục hồi quyền lực ở Việt Nam chứ không có y ở lâu dài tại Thái Lan. Họ luôn mong được sớm quay trở về Việt Nam nên ít có tâm chí xây dựng một ngôi chùa dù chỉ là tạm thời ở Thái Lan. Sau khi Nguyễn ánh và một số tướng sĩ đã quay về Việt Nam vào năm 1787, vẫn còn một số lượng đáng kể tướng sĩ và người Việt tình nguyện ở lại Thái Lan. Số người Việt này được ước tính khoảng vài nghìn người và định cư ở khu vực Bang Po ở Băng Cốc. Do đó ngôi chùa Việt đầu tiên có lẽ được xây dựng bởi nhóm người Việt ở lại này. Giả thiết này xem chừng hợp lí hơn là giả thiết ngôi chùa đầu tiên được xây từ thời kì trước đó vì nhóm người Việt này sau khi đã quyết định ở lại, an cư rồi mới xây dựng chùa theo tôn giáo của họ để thờ cúng lâu dài. 

Chính sách đàn áp Thiên chúa giáo ở Việt Nam của triều đình nhà Nguyễn vào thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị và cuộc tranh chấp trên lãnh thổ Campuchia kéo dài hơn 10 năm là nguyên nhân của những cuộc di cư của người Việt theo đạo Thiên chúa và những tù binh chiến tranh đến Thái Lan. Số tù binh chiến này được đưa đến phục vụ trong đội đại bác của quân đội Thái Lan ở tỉnh Kanchanaburi. Sau  khi hoàn thành nghĩa vụ ở đó xong họ được chuyển về Băng Cốc và được cấp đất sinh sống ở khu vực kênh Pradung Krung Kasem (nay là khu vực thuộc quận Dusit ở Băng Cốc) nhưng một phần trong số họ tình nguyện ở lại tỉnh Kanchanaburi. Do đó thời kì này An nam tông có thêm 3 chùa mới nữa trong đó 2 chùa là ở bên ngoài Băng cốc đó là chùa Khánh Thọ (Wat Thavornvayaram) ở tỉnh Kanchanaburi, chùa Cảnh Phước (Wat Samanam Boriharn) ở quận Dusit (Băng Cốc) và chùa Phước Diện (Wat Khetnabunyaram) ở tỉnh Chanthaburi. (Theo Prince Damrong Rachanuphap)

Sau khi Pháp chiếm Việt Nam và đặt chính sách thực dân trên toàn Đông Dương, nhiều người Việt Nam đã phải chạy trốn khỏi  chế độ hà khắc trong nước và nhiều người trong số họ đã đến Thái Lan. Thời kì này là thời kì hưng thịnh của An Nam tông tại Thái Lan vì do vào thời Vua Rama III, Hoàng tử Mongkut của Thái Lan lúc đó đang tu hành ở chùa Thái có quan tâm đặc biệt đến Phật giáo Đại thừa của Việt Nam nên đã thường cho mời Hoà thượng Thích Chân Hưng đến đàm đạo và rất kính phục sự hiểu biết của Hoà thượng Chân Hưng cũng các nghi lễ của phật giáo Đại thừa của Việt Nam. Sau này khi Hoàng tử lên ngôi và trở thành vua Rama IV, Nhà Vua đã có nhiều sự giúp đỡ đặc biệt đối với các chùa Việt như cấp đất xây dựng mở mang thêm chùa, tặng cho nhà chùa bức tượng Phật quí của riêng Vua. Nối tiếp truyền thống của vua Rama IV, vua Rama V cũng giúp đỡ rất nhiều trong việc phát triển An Nam tông trên đất Thái. Đặc biệt là vào thời vua Rama V, năm 1899 cùng với Trung Hoa tông, An Nam Tông đã được nhà Vua chính thức công nhận là một trong hai tông phái Phật giáo Đại thừa duy nhất ở Thái Lan. Điều đặc biệt đáng lưu y ở đây là người Hoa tuy sang làm ăn sinh sống ở Thái Lan trước người Việt Nam từ rất lâu nhưng trước đó chưa có một ngôi chùa nào của người Trung Quốc được xây dựng trên đất Thái cho đến tận thời vua Rama V.  Trước đó người Hoa thường thờ cúng ở các chùa Thái hoặc các miếu, điện theo tín ngưỡng của họ. Mãi đến thời vua RamaV, khi các chùa của người Việt bắt đầu được biết đến rộng rãi không chỉ riêng trong cộng đồng người Việt Nam mà còn cả trong cộng đồng người Hoa và người Thái, lúc đó Sok Heng - vị tăng người Trung Quốc đầu tiên - mới bắt đầu đến cư trú ở Băng Cốc và ngôi chùa của nguời Hoa đầu tiên mới được xây dựng ở gần chùa Phổ Phước trong khu Chinatown gọi là chùa Leng Nuei Yee hay là chùa Mangkorn Kamalawat . Trong thời kì này, An Nam tông có thêm 4 ngôi chùa mới được xây dựng dựa vào sự hảo tâm, công đức của phật tử cả người Việt và người Hoa và đều nằm trong khu Chinatown. Đó là chùa Phổ Phước (Wat Kusolsamakhorn), chùa Túy Ngạn (Wat Chaiyabhumikaram), chùa Biểu Phước (Wat Bampenchinprod)[7] và chùa Từ Tế (Wat LoKanukro). 

Sau năm 1945, làn sóng những người Việt Nam nhập cư vào Thái lên đến con số hàng chục nghìn người. Vì lí do đến Thái Lan của họ phần lớn là chạy tản cư tránh sự đàn áp của chính quyền thực dân Pháp và tập hợp lực lượng để giúp cho cách mạng trong nước, hơn nữa do quy định của chính quyền Thái Lan cho họ chỉ được sống ở khu vực mấy tỉnh biên giới Thái-Lào và Thái-Campuchia nên những người Việt tị nạn này không mấy biết đến các chùa Việt ở Băng Cốc. Chỉ một phần trong số họ còn giữ mối quan hệ với những chùa nào mà còn có các sư người Việt Nam như Hoà thượng Thích Bình Lương vị chủ tịch thứ 7 của An Nam tông tại Thái Lan ở chùa Từ Tế từ năm 1920-1964 và Hoà thượng Bảo Ân ở chùa Cảnh Phước. Trong suốt thời kì chiến tranh chống Mĩ, chính phủ Thái Lan lo sợ ảnh hưởng của phong trào cộng sản trong khu vực nên đã có những chính sách chống đối với những người tị nạn Việt Nam. Đặc biệt là thời kì chiến tranh lạnh, chính sách chống cộng của Thái đã gây nên một làn sóng kì thị người Việt làm cho bà con phật tử Viêt Nam dần dần xa lánh các chùa Việt và ngày càng có ít con cháu người Việt xuất gia tu hành ở An Nam tông. Các chùa Việt dần dần được thay thế bằng các vị tăng người Hoa và người Thái. Sau khi Hoà thượng Thích Bình Lương xin miễn nhiệm vào năm 1964 và trở về Việt Nam rồi viên tịch ở đó thì không còn Hoà thượng nào người Việt giữ trọng trách trong An Nam tông. Hiện nay không còn tìm được người gốc Việt nào tu ở An Nam tông nữa. Nhưng cũng từ thời kì sau năm 1945, số lượng chùa Việt trên đất Thái vẫn liên tục phát triển và mở rộng ra trên toàn đất Thái Lan bằng sự hảo tâm và đóng góp của phần lớn phật tử gốc Hoa. Đó là 

Chùa Khánh Thọ (Wat Thavornyaram) ở thành phố Hatyai tỉnh Songkhla.

Chùa Khánh An (Wat Sunthornpradit) ở tỉnh Udonthani 

Chùa Tam Bảo Công (Wat Ubhaipakaram) ở tỉnh Chachengsao

Chùa Long Sơn (Wat Thamkhaunoi) ở tỉnh Kanchanaburi[8]

Chùa Mahayana Kanchanamat Ratsadornbamrung ở tỉnh Yala

Chùa Annam-nikai Chalermprachonapansakan ở tỉnh Supanburi

Chùa Phổ Chiếu (Wat Satthayayimpanit) ở tỉnh Samutsakhon

Chùa Phước Thành (Wat Thammabanyaram Ban Muong ở tỉnh Nakhornpathom.

Như vậy không kể hai chùa là Cam lộ và Biểu Phước đã thuộc Trung Hoa tông, An Nam tông hiện có tất cả 17 ngôi chùa ở khắp các miền của Thái Lan.

Nguồn gốc An Nam tông. 

Cho dù chưa có y kiến thống nhất về ngôi chùa Việt đầu tiên là chùa Cam Lộ hay chùa Quảng Phước nhưng một điều chắc chắn là An Nam tông đã đến Thái Lan vào thời kì cuối thế kỉ 19 do những người Việt di cư cùng với Tôn Thất Xuân và Nguyễn Phúc Anh và đến từ miền Trung và miền Nam của Việt Nam. Do đó An Nam tông  không thể không bị ảnh hưởng bởi Phật giáo miền trung và miền Nam vào thời kì này. 

Giao đoạn từ thế kỉ thứ 17 đến thế kỉ thứ 19, Phật giáo Việt Nam nói chung và nhất là Phật giáo miền Trung và miện Nam bị ảnh hưởng rất nhiều của hai trường phái thiền của Trung Hoa đó là phái Lâm Tế và Tào Động. Hoà thượng Nguyên Thiều – thuộc phái Lâm Tế thế hệ thứ 33 của Trung Quốc và hoà thượng Thạch Liêm – thuộc thế hệ thứ 29 của phái Tào Động được coi là sư phụ của hai phái này ở miền Trung và miền Nam.  Các vị cao tăng của Việt Nam trong thời kì này cũng phần lớn thuộc về hai phái này. Theo nghiên cứu của Hoà thượng Mật Thể trên các bia văn ở các chùa Việt tại Huế, Bình Định và Quảng Nam thì Minh Hành Tại Toại là một học trò xuất sắc của Nguyên Thiều và thuộc phái Lâm Tế thế hệ thứ 34. Nguyên Thiều đã truyền thừa lại cho Chơn Tú thuộc thế hệ thứ 35 và Chơn Tú truyền tiếp cho Như Tuỳ – một thiền sư phái Lâm Tế thế hệ thứ 36. Dòng truyền thừa này sau đó bị thất truyền từ đời thứ 37.  Tình cờ khi nghiên cứu các ghi chép và bia văn ở chùa Phổ Phước, trụ sở của An Nam tông tại Thái Lan, thấy có ghi nhận vị tổ sư đầu tiên của phái Lâm tế của An Nam tông tại Thái Lan là Hoà thượng Chánh Tạng Nguyên Bảo - thiền sư đời thứ 38 của phái Lâm Tế. Tuy Như Tuỳ được ghi nhận là đã truyền thừa ra miền Bắc nhưng do tình hình nội chiến kéo dài trong suốt mấy thế kỉ, các sư sãi phải chạy trốn khỏi chùa và có thể là các đệ tử của Như Tuỳ phải phiêu bạt đi nhiều nơi và khả năng là đã sang Thái Lan vào thời kì cuối thế kỉ 18. Hơn nữa đối với người Việt ở Băng Cốc thời kì đó thì Thiền phái Lâm Tế đã quen thuộc với họ từ trong nước nên họ dễ dàng chấp nhận. 

Theo ghi chép của phái Lâm Tế ở Thái Lan thì các thế hệ sư tổ của phái này ở Thái lan là

Hoà thượng Chánh Tạng Nguyên Bảo thuộc đời thứ 38

Hoà thượng Vĩnh Khánh Quảng Diễn và Tinh Chuyên Quảng Cần thuộc đời thứ 39

Hoà thượng Diệu Trạm Tục Nhuận và Thủ Lễ Tục Nghi thuộc đời thứ 40

Hoà thượng Bản Mặc Viên Mãn thuộc đời thứ 41.

Bên cạnh đó, các bia văn ở bàn thờ tổ của chùa Khánh Thọ và chùa Long Sơn ở tỉnh Kanchanaburi  có ghi chép rõ ràng về các đời tổ của chùa đều thuộc phái Tào Động đó là  

Hoà thượng Tân Thành Tánh Huyền thuộc đời thứ 39 

Hoà thượng Thông Huệ Chân Hưng, thuộc đời thứ 40

Hoà thượng Thiên Vân Bảo Hải thuộc đời thứ 41

Hoà thượng Bình Khuyết Diệu Khe thuộc đời thứ 42

Hoà thượng Thanh Bạch Ngọc thuộc đời thứ 43

Hoà thượng Địa Kim Giác Mẫn thuộc đời thứ 44

Hoà thượng Địa Tường Phong Điều cũng thuộc đời thứ 44

Như vậy nếu tính về mặt thời gian, từ thời thứ 33 của Nguyên Thiều cho tới đời thứ 38 của Lâm Tế ở Thái Lan cũng hợp lí với giai đoạn cuối thế kỉ 18. Và từ thời thứ 29 của Thạch Liêm đến đời thứ 39 của Tào Động cũng tương đương với thời kì xây dựng những ngôi chùa đầu tiên của Tào Động ở Thái Lan vào thời kì Vua Rama III (1824-1851). Một điều nữa cũng đáng lưu y là thời kì từ thế kỉ thứ 19, khi An Nam tông ngày càng được biết đến và tôn trọng ở Thái Lan thì cũng ngày càng có ít người Việt kế thừa dòng thiền này. Các sư người Hoa và người Thái có thể đọc hiểu các kinh sách của An Nam tông bằng tiếng Trung Quốc nhưng lại không thể phát âm được ra âm Hán Việt như người Việt. Vì vậy để học thuộc các bài kinh, các sư của An Nam tông phải học thuộc lòng trực tiếp bằng cách nhắc lại các đoạn kinh đúng như sư phụ đã đọc. Do đó cách phát âm thường là giữ gần như nguyên vẹn giọng của sư phụ. Và thực tế là các sư của An Nam tông hiện nay đều có giọng đọc của miền Trung hoặc miền Nam. Không có một chùa nào của An Nam tông có giọng đọc của miền Bắc. 

Như vậy, nếu nhìn lại sự phát triển của An Nam tông và các nghiên cứu ghi chép ở các chùa Việt ở Thái Lan thì Annam-nikai hay An Nam tông là sự tổng hợp của hai thiền phái Lâm Tế và Tào Động của Viêt Nam. Lúc đầu khi mới được du nhập vào Thái Lan, hai thiền phái này sinh hoạt độc lập theo từng chùa và được truyền trực tiếp từ sư phụ cho học trò của mình. Cho đến thời kì Vua Rama IV, khi các thiền sư Việt nam nhận được sự quan tâm đặc biệt của Hoàng Gia Thái Lan và các lễ nghi phật giáo của người Việt đặc biệt là lễ Công Đức đựoc giới thiệu vào cung và trở thành một nghi lễ không thể thiếu được của một tang lễ Hoàng Cung cho đến tận bây giờ, An Nam tông bắt đầu có sự sát nhập giữa hai thiền phái này. Đến thời Vua Rama V, vào năm 1899 sau khi được công nhận là một tông phái phật giáo đại thừa chính thức ở Thái Lan và được người Thái biết đến như là một đại diện của Phật giáo Việt Nam ở Thái Lan, An Nam tông bắt đầu có sự phân chia cấp bậc như Phật giáo Thái lan. Ngoài ra Vua còn yêu cầu các vị tăng của An Nam tông thay đổi một chút về trang phục như màu sắc của quần áo và kiểu cách để cho An Nam tông gẫn gũi với người Thái hơn.

Nếu như trước thời kì có các chùa Việt ở Thái Lan đã có rất nhiều người Việt di cư ra nước ngoài nhưng chưa thấy có ghi chép cụ thể nào nói đến việc thành lập những ngôi chùa của cộng đồng người Việt ở nước ngoài cụ thể và rõ ràng như các ngôi chùa Việt trên đất Thái. Vì vậy có thể cho rằng những chùa Việt ở Thái Lan có lẽ là những ngôi chùa đầu tiên của người Việt Nam được xây dựng ở nước ngoài mà còn tồn tại đến ngày nay.

(*) Đỗ Thúy Hà (Tiwaree Kosittanakiat), giảng viên tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam, Bộ môn ngôn ngữ Phương Đông, trường Đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thailand
 
 
 

[1] Biên niên sử của Thái Lan có ghi là vào năm 1548, vua Mahachakrapat của Ayutthay có cho đào một con kênh Mahanaak và con kênh này có chạy qua một ngôi chùa (hoặc nhà thờ ) của người Việt sinh sống ở đó.  Vì từ Wat trong tiếng Thái thường được hiểu là nơi thờ cúng của một tôn giáo  có thể là của Phật giáo hoặc của Thiên Chúa giáo nên không rõ đó là chùa Việt hay nhà thờ Thiên chúa giáo của người Việt.  Sau đó không thấy có ghi chép nào thêm về cộng đồng này cũng như nơi thờ cúng của họ. Do đó có thể hiểu được là từ thế kỉ 16 đẫ có một nhóm người Việt Nam sống ở đây. (Pudsadee Chanthavimol, Vietnamese in Thailand, Thailand National Research Fund, Bangkok, 1998, tr.22).

[2] Theo Biên niên sử Thái Lan, đến cuối đời mình, Vua Taksin có những biểu hiện bất thường về thần kinh. Một hôm ông nằm mơ thấy Tôn Thất Xuân ăn cắp viên ngọc quí của Vua và nuốt vào bụng. Khi Vua tra hỏi Tôn Thất Xuân đã từ chối và bị xử tử hình cùng với 53 thân nhân gia quyến. (Kham Bunnaak: The Royal Historical Records of Rattanakosin (Rama I), 1983, p 15). 

Về cái chết của Tôn Thất Xuân, sách Đại Nam Thực Lục chính biên của Viện sử học cũng có viết rằng khi vua An nam sai Sâm và Tĩnh sang giao hữu với với Vua Siam cùng lúc đó một chiếc thuyền buôn của Siam trên đường từ Quảng Đông về bị cướp ở biển Hà Tiên. Thêm vào đó có người Champa tên Ong Bo Giao  tâu với vua Siam là Tôn Thất Xuân và Mạc Thiên Tứ đang có âm mưu làm loạn. Vua Siam cho gọi Tôn Thất Xuân vào tra hỏi nhưng Tôn Thất Xuân không nhận và bị vua ra lệnh xử tử hình cùng với gia quyến. (ĐNTLCB, Hà nội 1963, tr.34,35) 

[3] Có nhiều tư liệu khác nhau về thời gian Nguyễn Phúc Anh đến Băng Cốc.  Theo các nhà nghiên cưu Thái Lan thì thời gian Nguyễn Anh ở Băng Cốc là từ năm 1782 đến 1787 (Dr. Thanyathip Sripana, Việt kiều ở Thái Lan và mối quan hệ Thái-Việt, Trường Đại Học Chulalongkorn, 2006, tr.15). Nhưng sách lich sử Việt Nam như Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim thì lại viết là Nguyễn Anh sang Băng Cốc vào năm 1785. (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Văn hoá thông tin, Hà nội 2000, tr.499)

[4] Prince Damrong Rachanuphap, The legend of Annamese monks, trích từ sách “Lịch sử An Nam tông” của Hoà Thượng Phổ Liên, Băng Cốc 1992.

[5] Peter A.Pool: The Vietnamese in Thailand: A Historical Perspective, Cornell University Press, 1970, tr.25.

[6] Thích Phổ Liên, History of the Annam-nikai Buddhist denomination in Thailand & historical background of  the Annamese in the early Ratanakosin Period, Băng Cốc 1992, tr. 7.

[7] Chùa này hiện nay thuộc về Trung Hoa tông. Lúc đầu các chùa Việt đều chỉ có tên Việt. Nhưng từ sau khi được nhà Vua chính thức công nhận, Vua đã ban thêm tên Thái cho các chùa dựa theo nghĩa tiếng Việt. 

[8] Chùa này thực tế được xây dựng từ thời kì trước nhưng mới được đăng kí vào An Nam tông thời kì này. 
 
Đỗ Thúy Hà (*)
http://phattuvn.org/index.php?nv=News&at=article&sid=864
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap