CÚNG
HƯƠNG
[Thắp
ba cây hương qùy ngay thẳng,
cầm
hương ngang trán tưởng chú niệm bài cúng hương cầu nguyện]
Nguyện
đem lòng thành kính,
Gởi
theo đám mây hương,
Phưởng
phất khắp mười phương,
Cúng
dường ngôi Tam Bảo
Thề
trọn đời giữ đạo,
Theo
tự tánh làm lành,
Cùng
pháp giới chúng sinh,
Cầu
Phật từ gia hộ,
Tâm
Bồ Đề kiên cố,
Xa
bể khổ nguồn mê,
Chóng
quay về bờ Giác.
[Xá
rồi đọc tiếp bài kỳ nguyện]
TÁN
THÁN
PHẬT
Đấng
Pháp Vương vô thượng,
Ba
cõi chẳng ai bằng
Thầy
dạy khắp trời người
Cha
lành chung bốn loài
Quy
y tròn một niệm
Dứt
sạch nghiệp ba kỳ
Xưng
dương cùng tán thán
Ức
kiếp không cùng tận.
QUÁN
TƯỞNG
Phật
chúng sinh tánh thường rỗng lặng
Đạo
cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới
đế châu ví đạo tràng
Mười
phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước
bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi
đầu xin thệ nguyện quy y.
Chí
tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá
hiện vị lai, thập phương chư Phật, Tôn pháp, Hiền Thánh
Tăng, thường trụ Tam bảo. [1 lạy]
Chí
tâm đảnh lễ: Nam mô Ta bà Giáo Chủ Bổn sư Thích Ca Mâu
Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp
Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn hội thượng Phật Bồ Tát.[1
lạy]
Chí
tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại
từ đại bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Aâm Bồ Tát,
Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ
Tát, Thanh tịnh đại hải chúng Bồ Tát. [1
lạy]
TÁN
LƯ
HƯƠNG
Kim
lư vừa bén chiên đàn
Khắp xông
pháp giới đạo tràng mườiphương
Hiện
thành mây báu kiết tường
Chư
Phật rõ biết ngọn hương chí thiền
Pháp
thân toàn thể hiện tiền
Chứng minh
hương nguyện phước liền ban cho.
Nam
mô hương vân cái Bồ Tát [3 lần]
CHÚ
ĐẠI BI
Nam Mô Đại
Bi Hội thượng Phật Bồ Tát. [3 lần]
Thiên
thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.
Nam
mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam mô A rị da bà lô kiết
đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma tát đỏa
bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát
na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia bà
lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam
mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha
đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đá, na ma bà da, ma
phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế,
ca ra đế, di hê rị, ma bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà,
ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông,
độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà
ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ
phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra
sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô
lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất
rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ,
bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt
ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất
đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra da, ta bà ha.
Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục
khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết
ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà
ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng
kiết ra dạ, ta bà ha.
Nam
mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô kiết
đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô mạn đa
ra bạt đà dạ, ta bà ha. [3 lần]
Nam mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật [3 lần]
NGHI
THỨC SÁM HỐI
TRƯỚC
KHI TỤNG KINH
[Dùng
ba nghiệp thân khẩu ý, thanh tịnh mà tụng kinh, thời phước
đức vô lượng, nên trước khi tụng kinh cần phải sám hối.
Sám hối tức là làm cho ba nghiệp thanh tịnh.]
Nam
mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật.
[1
lạy]
Nam
mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp.
[1
lạy]
Nam
mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh
Tăng. [1 lạy]
[Qùy,
tay cầm hương cúng dường phát nguyện]
Nguyện
mây hương mầu này
Khắp
cùng mười phương cõi
Cúng
dường tất cả Phật
Tôn
Pháp, các Bồ Tát,
Vô
biên chúng Thanh Văn
Và
cả thảy Thánh Hiền
Duyên
khởi đài sáng chói
Trùm
đến vô biên cõi,
Khắp
xông các chúng sinh
Đều
phát lòng Bồ Đề,
Xa
lìa những nghiệp vọng
Trọn
nên đạo vô thượng.
[Cắm
hương, lạy 1 lạy]
[Đứng
chắp tay, xướng]
Sắc
thân Như Lai đẹp
Trong
đời không ai bằng
Không
sánh, chẳng nghĩ bàn
Nên
nay con đảnh lễ.
Sắc
thân Phật vô tận
Trí
huệ Phật cũng thế,
Tất
cả pháp thường trú
Cho
nên con về nương.
Sức
trí lớn nguyện lớn
Khắp
độ chúng quần sanh,
Khiến
bỏ thân nóng khổ
Sanh
kia nước mát vui.
Con
nay sạch ba nghiệp
Quy
y và lễ tán
Nguyện
cùng các chúng sanh
Đồng
sanh nước An Lạc.
Án
phạ nhựt ra vật [7 lần].
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Thường
tịch quang tịnh độ
A
Di Đà Như Lai
Pháp
thân mầu thanh tịnh
Khắp
pháp giới chư Phật. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Thật
báo trang nghiêm độ
A
Di Đà Như Lai
Thân
tướng hải vi trần
Khắp
pháp giới chư Phật. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Phương
tiện thánh cư độ
A
Di Đà Như Lai
Thân
trang nghiêm giải thoát
Khắp
pháp giới chư Phật. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi
An Lạc phương Tây
A
Di Đà Như Lai
Thân
căn giới Đại Thừa
Khắp
pháp giới chư Phật. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi
An Lạc phương Tây
A
Di Đà Như Lai
Thân
hóa đến mười phương
Khắp
pháp giới chư Phật. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi
An Lạc phương Tây
Giáo
hạnh lý ba kinh
Tột
nói bày y chánh
Khắp
pháp giới Tôn Pháp. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi
An Lạc phương Tây
Quán
Thế Aâm Bồ Tát
Thân
tử kim muôn ức
Khắp
pháp giới Bồ Tát. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi
An Lạc phương Tây
Đại
Thế Chí Bồ tát
Thân
trí sáng vô biên
Khắp
pháp giới Bồ Tát. [1 lạy]
CHÍ
TÂM ĐẢNH LỄ:
Cõi
An Lạc phương Tây
Thanh
tịnh đại hải chúng
Thân
hai nghiêm: Phước, Trí
Khắp
pháp giới Thánh Chúng. [1 lạy]
[Đứng
chắp tay, nguyện:]
Con
nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng sanh trong pháp giới,
đều nguyện dứt trừ ba chướng (1)
nên qui mạng (2) sám hối
(3).
[1
lạy, qùy, chắp tay sám hối]
Chí
tâm sám hối:
Đệ
tử ... và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thỉ nhẫn
đến ngày nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm,
lại do sáu căn ba nghiệp (4)
quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng
năm tội vô gián (5) và
tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên, nói không
thể hết. Mười phương các đức Phật thường ở trong đời,
tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập
tràn, phóng ánh sáng sạch trong, chiếu soi tất cả. Lý mầu
thường trụ đầy dẫy hư không.
Con
từ vô thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng
thấy chẳng nghe, chẳng hay chẳng biết, vì nhơn duyên đó
trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ (6),
trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi. Kinh rằng:
Đức Tỳ Lô Giá La thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở
gọi là Thường Tịch Quang, cho nên phải biết cảø thảy
các pháp đều là Phật pháp, mà con không rõ, lại theo giòng
vô minh vì thế trong trí Bồ Đề mà thấy không thanh tịnh,
trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ,
nay mới chừa bỏ, ăn năn phụng đối trước các đức Phật
và A Di Đà Thế Tôn mà phát lồ (7)
sám hối, làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả
tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô thỉ, hoặc
hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu
người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo, hoặc
nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc
nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu,
thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.
Đệ
tử sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không
lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều
hồi hướng dùng trang nghiêm tịnh độ, khắp với chúng sinh,
đồng sanh về nước An dưỡng.
Nguyện
đức A Di Đà Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành
của đệ tử hiện tiền tăng tấn, chẳng mất nhân duyên
Tịnh độ, đến giờ lâm chung, thân an lành, niệm chánh vững
vàng, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy đức A Di Đà cùng
các Thánh Chúng, tay cầm đài hoa tiếp dẫn đệ tử, trong
khoảnh sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ Tát,
rộng độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Đệ
tử sám hối phát nguyện rồi quy mạng đảnh lễ: Nam mô Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đại từ đại bi, A Di Đà Như
Lai, biến pháp giới Tam Bảo. [1 lạy]
[Lạy
xong tiếp nghi thức tụng kinh.]
NGHI
THỨC TRÌ TỤNG
BÀI
TÁN LƯ HƯƠNG
Lư
hương vừa ngút chiên đàn
Khói
thơm ngào ngạt muông ngàn cõi xa
Lòng
con kính ngưỡng thiết tha
Ngửa
mong chư Phật thương mà chứng minh.
Nam
mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma Ha Tát. [3 lần]
CHƠN
NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI
Án
Lam [7 lần]
CHƠN
NGÔN TỊNH BA NGHIỆP:
Tu
rị Tu rị ma ha Tu rị Tu rị ta bà ha. [3 lần]
CHƠN
NGÔN PHỒ CÚNG DƯỜNG:
Án
nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. [3 lần]
BÀI
VĂN PHÁT NGUYỆN:
Nam
Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo [3 lần]
Lạy
đấng tam giới tôn
Quy
mạng mười phương Phật
Nay
con phát nguyện lớn
Trì
tụng Kinh A Di Đà
Trên
đền bốn ơn nặng
Dưới
cưú khổ tam đồ
Nếu
có ai thấy nghe
Đều
phát Bồ đề tâm
Khi
mãn báo thân này
Sanh
qua cõi Cực lạc.
Nam Mô
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật [3 lần]
BÀI
KỆ KHAI KINH
Phật
pháp rộng sâu rất nhiệm mầu
Trăm
ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay
con nghe thấy chuyên trì tụng,
Nguyện
tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam
Mô Liên Trì Hải Hội Phật, Bồ Tát Ma Ha tát [3 lần]
PHẬT
NÓI
KINH
A DI ĐÀ
Hán
dịch, nhà Dao Tần Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch.
KỲ VIÊN ĐẠI
HỘI (3)
Ta
nghe như vầy: Một thuở nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ
Thọ, cấp Cô Độc nước Xá-Vệ, cùng với một nghìn hai
trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội: đều là bậc A
La Hán mọi người đều quen biết, như là:
Trưởng
lão Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Đại Ca-Diếp, Ma-Ha
Ca-Chiên-Diên, Ma-Ha Câu-Hy-La, Ly-Bà-Đa, Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già,
Na-Đà, A-Nan-Đà, La-Hầu-La, Kiều-Phạm-Ba-Đề, Tân Đầu-Lư-Phả-La-Đọa,
Ca-Lưu-Đà-Di, Ma-Ha Kiếp Tân Na, Bạc-Câu-La, A-Nâu-Lầu-Đà,
những vị đại đệ tử như thế.
Và
hàng Đại Bồ Tát, Văn-Thù-Sư-Lợi: Pháp-Vương-Tử, A-Dật-Đa
Bồ Tát, Càn-Đà-Ha-Đề Bồ Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ tát.
cùng với các vị Đại Bồ tát như thế và với vô lượng
chư Thiên như ông Thích-Đề-Hoàn-Nhơn..v..v.. đại chúng cùng
đến dự hội (4)
Y BÁO CHÁNH BÁO
Bấy
giờ đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá-Lợi-Phất rằng:
"Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có
thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật
hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.
Y BÁO TRANG NGHIÊM
(5)
Xá
Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực lạc?
Vì
chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng
những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc. (6)
Xá
Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy
từng mành lưới, bẩy từng hàng cây, đều bằng bốn chất
báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực
Lạc. [7]
Xá
Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bẩy chất báu,
trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần
dùng cát vàng trải làm đất.
Vàng
bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn
bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức
bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
Trong
ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh,
sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ,
sắc trắng thời ánh sánh trắng, mầu nhiệm thơm tho trong
sạch. [8]
Xá
Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang
nghiêm dường ấy.
Xá
Lợi Phất! Lại trong cõi nước của đức Phật đó, thường
trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời
rưới hoa trời mạn đà la.
Chúng
sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy
hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức đức
Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc
ăn cơm xong đi kinh hành. [9]
Xá
Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang
nghiêm dường ấy.
Lại
nữa, Xá-Lợi-Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu
sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạt, Khổng-tước,
Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống
chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.
Tiếng
chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất
bồ đề phần, bát thánh đạo phần..v..v.. Chúng sanh trong
cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng!
Xá-Lợi-Phất!
Oâng chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo
sanh ra. Vì sao?
Vì
cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ. Xá-Lợi-Phất!
Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống
gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do đức Phật
A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến
hóa làm ra đấy thôi. [10]
Xá-Lợi-Phất!
Trong cõi nước của đức Phật đó, gió nhẹ thổi động
các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng
vi diệu, thí dụ như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc
hòa chung.
Người
nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng.
Xá-Lợi-Phất!
Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm
dường ấy.
CHÁNH BÁO VÔ LƯỢNG
THÙ THẮNG
Xá-Lợi-Phất!
Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà?
Xá-Lợi-Phất!
Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các
cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế
nên hiệu là A Di Đà.
Xá-Lợi-Phất!
Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng
vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà. [11]
Xá-Lợi-Phất!
Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn lại đến nay, đã được
mười kiếp.
Xá-Lợi-Phất!
Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử
đều là bực A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết
được, hàng Bồ tát chúng cũng đông như thế.
Xá-Lợi-Phất!
Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm
dường ấy.
Xá-Lợi-Phất!
Lại trong cõi cực lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó
đều là bực bất thối chuyển.
Trong
đó có rất nhiều vị bực nhất sanh bổ xứ, số đó rất
đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể
dùng số vô lượng vô biên a-tăng-kỳ để nói thôi!
Xá-Lợi-Phất!
Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện
cầu sanh về nước đó.
Vì
sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế
câu hội một chỗ. [12]
NHƠN HẠNH VÃNG
SANH
Xá-Lợi-Phất!
Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên
mà được sanh về cõi đó.
Xá-Lợi-Phất!
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật
A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc
trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày,
hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không
tạp loạn.
Thời
người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng
Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó.
Người
đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng
sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. [13]
Xá-Lợi-Phất!
Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.
Nếu
có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát
nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.
SÁU PHƯƠNG PHẬT
ĐỔNG KHUYÊN TIN
Xá-Lợi-Phất!
Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ
bàn của đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có đức A-Súc-Bệ-Phật,
Tu-Di-Tướng Phật, Đại-Tu-Di Phật, Tu-Di-Quang Phật, Diệu-Aâm
Phật; Hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở
tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp
cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng
sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị
Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất!
Thế giới phương Nam, có đức Nhật- Nguyệt-Đăng Phật, Danh-Văn-Quang
Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tu Di-Đăng Phật, Vô-Lượng-Tinh-Tấn
Phật. Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại
nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi
tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh
các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công
Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất!
Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng
Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại-Minh Phật,
Bửu-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật. Hằng hà sa số những
đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng
lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói
lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh:
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất!
Thế giới phương Bắc, có đức Diệm-Kiên-Phật, Tối-Thắng-Aâm
Phật, Nan-Trở Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng-Minh Phật. Hằng
hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình,
hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại
thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải
nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết
Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất!
Thế giới phương dưới, có đức Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật,
Danh-Quang Phật, Đạt-Mạ Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp
Phật. Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại
nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi
tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh
các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công
Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".
Xá-Lợi-Phất!
Thế giới phương trên, có đức Phạm-Aâm Phật, Tú-Vương
Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên
Phật, Tạp-Sắc Bửu-Hoa-Nghiêm-Thân Phật, Ta La-Thọ-Vương
Phật, Bửu-Hoa Đức Phật, Kiến-Nhất-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn
Phật. Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại
nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi
tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh
các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công
Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này". [14]
Xá-Lợi-Phất!
Nơi ý của ông nghĩ thế nào, vì sao tên là kinh: Nhứt-Thiết
Chư Phật Sở Hộ Niệm?
Xá-Lợi-Phất!
Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này
mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của đức Phật, thời những
thiện nam tử cùng thiện nữ nhân ấy đều được tất cả
các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển
nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Xá-Lợi-Phất!
Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các
đức Phật nói.
Xá-Lợi-Phất!
Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ
phát nguyện muốn sanh về cõi nước của đức Phật A Di Đà,
thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi
đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; nơi cõi nước kia,
hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh
về.
Xá-Lợi-Phất!
Cho nên các thiện nam tử thiện nữ nhân nếu người nào có
lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia.
THUYẾT KINH BẤT
KHÓ
Xá-Lợi-Phất!
Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của
các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức
chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời nầy: "Đức Thích
Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có
thể ở trong cõi Ta Bà đời ác năm món trược: kiếp trược,
kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược
trung, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, Ngài vì các chúng sanh nói kinh pháp mà tất cả thế
gian khó tin này".
Xá-Lợi-Phất!
Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành
việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì
tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó!
[15]
Đức
Phật nói kinh này rồi, ngài Xá-Lợi-Phất cùng các vị Tỳ
kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A-Tu-La, v..v.. nghe lời
của đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ mà
lui ra.
PHẬT
NÓI KINH A DI ĐÀ
BỒ
KHUYẾT CHƠN NGÔN
Nam
mô tam mãn đa một đà nẫm, a bát ra đế, yết đa chiết,
chiết nại di. Aùn, kê di kê di, đát tháp cát tháp nẫm, mạt
ngõa sơn đính, bát ra đeá, ô đát ma đát ma, đát tháp cát
tháp nẫm, mạt ngõa hồng phấn tóa ha [7
lần]
Nam
mô Hoa-Tạng Giáo Chủ Tỳ-Lô Giá-Na Phật [3
lần]
BỒ
KHUYẾT TÂM KINH
Ma-Ha
Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh
Quán-Tự-Tại
Bồ Tát hành thâm Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa thời, chiếu kiến
ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử!
Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không,
không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục
như thị.
Xá-Lợi-Tử!
Thị chư pháp không tướng: bất sanh, bất diệt, bất cấu,
bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc,
vô thọ, tưởng, hành, thức: vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi
chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi
chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt,
đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề
tát đỏa y Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa cố, tâm vô quái ngại, vô
quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng
tưởng cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa
cố, đắc a-nậu đa-la tam-miệu tam bồ đề.
Cố
tri Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh
chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng-đẳng chú, năng trừ
nhứt thiết khổ, chơn thật bất hư.
Cố
thuyết Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa chú. Tức thuyết chú viết:
"Yết-đế
yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la- tăng yếr-đế, bồ đề tát-bà-ha".
[3
lần]
VÃNG
SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Nam
mô A Di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha. A di
rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa,
tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị già già
na, chỉ đa ca lệ ta bà ha. [3 lần]
Khể
thủ Tây Phương An Lạc quốc
Tiếp
dẫn chúng sanh đại đạo sư
Ngã
kim phát nguyện nguyện vãng sanh
Duy
nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Ngã
kim phổ vị tứ ân tam hữu, cập pháp giới chúng sanh cầu
ư chư Phật, nhứt thừa vô thượng bồ đề đạo cố, chuyên
tâm trì niệm A Di Đà Phật vạn đức hồng danh kỳ sanh Tịnh
Độ. Duy nguyện Từ phụ A Di Đà Phật ai lân nhiếp thọ từ
bi gia hộ.
A Di
Đà thân kim sắc
Tướng
hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch
hào uyển chuyển ngũ Tu-Di,
Hám
mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang
Trung hóa Phật vô số ức,
Hóa
Bồ Tát chúng diệc vô biên,
Tứ
thập bát nguyện độ chúng sinh
Cửu
phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam
Mô Tây phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp
Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật [niệm 10, 20,
30 câu, tùy ý]
Nam
mô Quán Thế Aâm Bồ tát [10 niệm]
Nam
mô Đại Thế Chí Bồ tát [10 niệm]
Nam
mô Địa Tạng Vương Bồ Tát [10 niệm]
Nam
mô Thanh-Tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ Tát. [10
niệm]
Phúng
kinh công đức thù thắng hạnh,
Vô
biên thắng phước giai hồi hướng,
Phổ
nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc
vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện
tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện
đắc trí huệ chơn minh liễu,
Phổ
nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế
thế thường hành Bồ tát đạo.
Nguyện
sanh Tây phương Tịnh Độ trung,
Cửu
phẩm Liên hoa vi phụ mẫu,
Hoa
khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất
thối Bồ tát vi bạn lữ.
Nguyện
dĩ thử công đức,
Phổ
cập ư nhất thiết,
Ngã
đẳng dữ chúng sanh
Giai
cọng thành Phật đạo.
TỰ
QUY Y
Tự
quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo,
phát vô thượng tâm [1 lạy]
Tự
quy Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí
huệ như hải [1 lạy]
Tự
quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng,
nhứt thiết vô ngại. [1 lạy]
HỔI
HƯỚNG
Nguyện
đem công đức này,
Hướng
về khắp tất cả.
Đệ
tử và chúng sinh,
Đều
trọn thành Phật đạo.
THÍCH
NGHĨA SÁM PHÁP
Phiền
não, nghiệp nhân và quả báo, ba món đều hay làm chướng
ngại đường giải thoát nên gọi là "Ba món chướng".
Đem thân
mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng, chính là nghĩa
của hai chữ "Nam Mô".
Nói đủ
là Sám-Ma hối quá. "Sám-Ma" là tiếng Phạn, nghĩa là "hối
quá" tức là ăn năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.
Nhãn,
Nhĩ, Thiệt, Thân, Ý tức sáu căn và ba nghiệp: Thân, Khẩu,
Ý.
Giết
cha, giết mẹ, giết Thánh nhân, ác tâm làm thân Phật ra máu,
phá hòa hiệp Tăng, gọi là năm tội nghịch, nếu phạm sẽ
bị đọa vào ngục Vô-Gián nên gọi là tội Vô-Gián. Ngục
Vô-Gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.
A-tu-la,
súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, các đường đó vui ít, khổ
nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.
Bày lộ
tội lỗi ra trước chúnh nhân, không chút giấu che, thời gọi
là phát lồ, trái với phú tàng tức che giấu. Có phát lồ
thời tội mới tiêu, như bệnh cảm mà đặng phát hạn [ra
mồ hôi].
THÍCH
NGHĨA A DI ĐÀ KINH
Trong
kinh này, đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuật nói chánh báo và
y báo thù thắng trang nghiêm của đức Phật a Di Đà Phật.
Triều-Tấn
(Tàu), Diệu Hưng chiếm một phần đất xưng Vương, quốc
hiệu là tần nên gọi là Diệu Tần. Bự thông hiểu tam tạng
kinh, luật và luận, có thể giảng nói để dạy mọi người
nên gọi là Tam Tạng Pháp Sư. Ngài Cưu Ma La Thập người xứ
Thiên Trúc, qua Tàu làm một nhà dịch kinh chữ Phạn ra chữ
Tàu có danh tiếng nhất.
Ong Cấp
Cô Độc Trưởng Giả mua khu vườn của ông Kỳ Đà Thái Tử,
con vua Ba-Tư-Nặc, nước Xá Vệ. Thái tử cúng luôn rừng cây
trong đó, rồi hai người chung sức nhau dựng Tịnh Xá dể
thỉnh Phật cùng chúng hội vể ở. Do đó nên hiệp cả hai
tên của hai người để đặt tên chốn ấy mà gọi là Kỳ
Thọ Cấp Cô Độc Viên vậy. Đệ tử của đức Phật rất
đông, không phải chỉ có 1.250 người, nhưng vì 1.250 vị Đại
A-La-Hán nầy là những vị được Phật độ trước và theo
hầu cận bên Phật luôn, nên trong kinh thường ước lược
nói số đó.
A-Dật-Đa
là tên của đức Di-Lặc Bồ Tát. - Càn-Đà Ha-Đề Bồ Tát
là ngài Bật-Hưu-TưÙc Bồ Tát - Thích-Đề-Hoàn-Nhân là tên
của Đế Thích, vua cõi trời Đao Lợi.
- Y báo
là chỗ nương ở, nhà cửa, ao vườn v..v.. gọi chung là cõi
nước, trong đây y báo là nước cưc lạc. - Chánh báo là quả
báo chánh thể, tức là loài người, trời, chim thú..v..v..
trong đây chánh báo là đức Phật A Di Đà cùng Bồ tát, Thanh
Văn ..v..v..
Cõi nước
ta đương ở đây gọi là Ta Bà có không biết bao nhiêu điều
khổ lụy, nào tam khổ, bát khổ.. Trái lại, bên cõi Cực
lạc chỉ thuần có những điều vui sướng, nào tam lạc, bát
lạc.
KHỒ
Ở CÕI TA BÀ
Tam Khổ:
Khổ
khổ: mang thân sắc người nặng nề, nhơ uế, sống nay chết
mai nầy đã khổ lắm rồi, mà trên cái khổ đó lại còn
chồng thêm không biết bao nhiêu là sự khổ khác nữa, như
già, bệnh, đói khát, nóng rét..v..v..
Hoại
khổ:
vô thường biến đổi, thân mạng như chỉ mành, tang thương
xây chuyển, như sương đầu cỏ.
Hành
khổ: trong mỗi niệm, tâm tưởng, biến chuyển luôn không
ngừng.
Bát Khổ:
Sanh khổ:
ở thai bào tối tăm nhơ uế, lọt lòng khổ trăm bề.
Lão khổ:
lụm cụm già nua, mắt mờ tai điếc, trí lãng, lưng mỏi,
gối dùn, mặt nhăn đần bạc..
Bệnh
khổ: đau rên bứt rứt, nhức nhối xót xa, ngồi nằm không
yên, đi đứng không được.
Tử khổ:
ngộp mệt, lộn tròng, méo miệng, chuyển xương, gân rút..
Cầu
bất đắc khổ: lợi danh không toại, muốn phước trở mang
họa, cầu thọ mà yểu vong..
Aùi biệt
ly khổ: cốt nhục phân tán, sanh biệt tử ly.
Oán tắng
tội khổ: oan gia, đối đầu, cừu thù gặp gỡ..
Ngũ ấm
xí thạnh khổ: thân tâm dời đổi biến diệt, phút phút chẳng
dừng, như ngọn lửa phừng phừng không khác..
VUI
Ở CỰC LẠC
Tam
Lạc:
Lạc
trung lạc: thân cùng độ đều thù thắng, thân nhẹ, cõi xinh,
ấm no, khương kiện.
Bất
biến hoại lạc: thân mạng trường tồn, cõi nước không
thiêu diệt.
Bất
động trí lạc: định huệ dung thông, chánh tri bất động.
Bát lạc:
Sanh Lạc:
thác chất liên hoa, thanh tịnh hóa sanh..
Vô lão
lạc: mãi mãi trẻ trung, không già không yếu.
Vô bịnh
lạc: hằng hằng khương kiện, không bệnh, không đau yếu.
Vô tử
lạc: thọ mạng vô cùng, trường sanh bất diệt.
Toại
nguyện lạc: tùy ý quả toại, y thưc tự nhiên.
Vô ái
biệt ly lạc: bạn lành hải chúng, thân cận không rời..
Vô oán
tắng hội lạc: thuần là Thượng-Thiện-Nhân, đồng tâm xứng
ý..
Vô ngũ
ấm sanh lạc: thân tâm thanh tịnh, thường trụ không dời..
Không
đâu khổ bằng Ta Bà, không đâu vui bằng Cưc Lạc, vì thế
mọi người nên nhàm lìa chốn Ta bà mà nguyện về chốn Cưc
Lạc.
Bốn
báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Trong đây nói bốn báu mà chính
là gồm bảy báu: vàng ,bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu,
và mã não. Trong Quán Kinh nói: hoặc có thứ cây thuần bằng
vàng, hoặc có thứ cây thuần bằng bạc..v..v.. hoặc có thứ
cây thân vàng lá bạc, nhánh lưu ly..v..v.. - Dầu bằng chất
thất bửu chớ vẫn là cây sống, cũng như cây bên này bằng
chất gỗ.
Trong
đây nói đất là chỉ thuận theo tiếng nầy mà gọi thế,
chớ chính thật cõi cực lạc thuần bằng chất vàng.. Tuyệt
không có thứ đất bùn cát sỏi. - Tám công đức của nước
trong ao bên Cực Lạc:trong sạch, nhẹ nhàng, mát mẻ, ngon ngọt,
đượm thuần, êm đềm hòa huỡn, uống vào hết đói khát,
và bổ khỏe thân tâm.
Người
nước Cực Lạc đều có thần túc thông, trong nháy mắt có
thể đi trải qua vô lượng thế giới. Đi kinh hành là đi
vòng quanh chậm rãi, vừa đi vừa suy gẫm tưởng niệm những
pháp lành. Phật, Pháp và Tăng. Đi kinh hành có hai điều lợi
ích: (1) Thâu nhiếp tâm tưởng vào chánh niệm, phục trừ
tà niệm loạn tưởng cùng biếng lười ngủ nghỉ, và (2)
điều hoà thân thể, huyết khí lưu thông, tiêu hóa dễ dàng.
Tinh,
tấn, niệm, định, huệ: người tu hành có năm đức nầy
thời vững chắc trên đường đạonhư cây có rễ nên gọi
là ngũ căn (cội rễ). Nếu tất cả cảnh duyên không thể
khuấy rối làm lay động được, thời năm đức trên gọi
là ngũ lực (sức mạnh). Thất Bồ Đề Phần cũng gọi là
Thất giác chi (7 đức giác ngộ) là Trạch pháp, Niệm, Tinh
tấn, Hỉ, Khinh an, Định, và Xả. Bát Thánh Đạo Phần là
Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng,
Chánh tinh tấn, Chánh niệm, và Chánh định. Ở trong cõi Ta
bà nầy, những loài chim nhiếp thuộc vào súc sanh đạo, một
ác đạo trong lục đạo, do ác nghiệp tội khiên mà chiêu
cảm ra khổ báo ấy. Chim bên Cực Lạc thời khác hẳn, không
phải là giống vật tội báo cảm vời sanh ra, mà do thần
lực của đức A Di Đà biến hóa ra để làm cho pháp âm được
lưu chuyển khắp trong nước.
Đoạn
nầy là đức Phật tự định danh nghĩa của ba đức A di Đà,
vì có hai điều vô lượng: (1) Vô lượbg quang, (2) Vô lượng
thọ, nên đức Phật bên nước Cực Lạc hiệu là a Di Đà.
A-bệ-bạt-trí
(Phạn âm) Hán dịch là bất thối chuyển, vào bực này thời
một mực đi trên đường Thánh thẳng đến thành Phật, không
còn bị thối sụt xuống phàm phu hay Tiểu thừa nữa. Tất
cả mọi người được sanh về cõi Cưc Lạc đều vào bực
bất thối cả, trong hàng bất thối lại có vô số bậc nhứt
sanh bổ xứ Bồ Tát (vì Bồ tát chỉ còn là Bồ tát trong
một đời hiện tại, mãn đời hiện tại thời thành Phật,
như hiện ay đức Di Lặc Bồ tát ở cung trời Đâu Suất nội
viện là bậc Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát vậy). Các bậc Thượng
thiện nhân là chỉ các bậc Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát.
Cõi Cực
Lạc thù thắng trang nghiêm, phải có nhiều căn lành phước
đức mới được sanh về đó. Niệm Phật được nhất tâm
bất loạn thời là thành tựu căn phước đức rất lớn,
đến khi lâm chung đức Phật A Di Đà cùng Quán Thế Aâm Bồ
tát, Đại Thế Chí Bồ tát ..phóng quangđến rước, quyết
định đặng sanh cõi Cưc Lạc. - Niệm Phật không còn móng
tưởng gì khác, không có mảy may thinh sắc gì khác xen vào,
vững vàng không xao động gọi là nhứt tâm bất loạn.
Người
tu Tịnh Độ phải có đủ ba điều: Tín 9tin thật), Hạnh
(chuyên tâm niệm Phật) và Nguyện (thiết tha muốn được
sanh về cõi Cưc Lạc) Trong ba điều nầy, lòng tin đứng trước
cả mà cũng là nền tảng của tất cả căn lành vì thế nên
chư Phật ở sáu phương đồng khuyên bảo, cho mọi người
sanh lòng tin chắc chắn quyết định.
Hằng
hà sa số: là số cát sông Hằng. Sông Hằng là con sống lớn
bên Thiên Trúc, nguồn từ dãy núi Hi Mã, chảy ngang xứ Thiên
Trúc, đổ vào Aán Độ Dương. Lòng sông và hai bên bãi có
cát rất nhiều và rất mịn. Đương thời đức Phật thường
nói pháp gần bên sông, nên phàm khi muốn chỉ một số lớn
quá nhiều thời mượn số cát trong sông Hằng mà nói.
Tướng
lưỡi rộng dài biểu tượng của sự thành thật. Trong kinh
nói người nào chót lưỡi liếm đến đầu mũi, thời người
ấy trong ba đời đã qua không hề có một lời nói dối. Lưỡi
dài liếm đến đầu mũi còn như thế, huống nữa là rộng
dài trùm khắp cả thế giới?
Một
thái dương hệ là một tiểu thế giới. Một nghìn tiểu thế
giới là một tiểu thiên thế giới. Một nghìn tiểu thiên
thế giới là một trung thiên thế giới. Một nghìn trung thiên
thế giới là một thế giới trải qua ba lần nhân cho số
nghìn, nên gọi là Tam thiên đại thiên thế giới [1 tiểu
thế giới x 1.000 x 1.000 x 1.000 = Đại thiên thế giới].
Đại
thiên thế giới của ta ở đây tên là Ta Bà dịch là Kham
khổ ngụ ý rằng trong cõi nầy có vô lượng sự thống khổ,
mà chúng sanh trong đó vẫn kham chịu được.
Ngũ Trựơc:
(1) Kiếp trược: kiếp là chỉ cho thời đại, thời gian. Trong
thời đại nào mà có các món trược dưới đây thời là
thời đại đục nhơ. (2) Kiến trược: Những điêu mê chấp,
tà kiến, điên đảo. (3) Phiền não trược: Các tâm niệm
bất thiện như tham, sân, si, mạn bất tín. (4) Chúng sanh trược:
Năm ấm (sắc, thọ,) hiệp hội sanh diệt chẳng dừng. (5)
Mạng trược: Số thọ rất ngắn, sống nay chết mai, mạng
sống trong hơi thở. Bốn món trên đây tánh cách nhiễu nãi,
sai lầm, biến đổi vô thường nên gọi là trược (nhơ đục).
MƯỜI ĐIỀU
TÂM NIỆM
Nghĩ
đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh
khổ thì dục vọng dễ sanh.
Ở đời
đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu sa
nổi dạy.
Cứu
xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc
mắc thì sở học không thấu đáo.
Xây dựng
đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị
ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.
Việc
làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh
thường kiêu ngạo.
Giao tiếp
đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
Với
người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì
thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.
Thi ân
đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu
đồ.
Thấy
lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.
Oan ức
không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân quả chưa xả.
BỞI
VẬY ĐỨC PHẬT DẠY:
Lấy
bệnh khổ làm thuốc thần
Lấy
hoạn nạn làm giải thoát
Lấy
khúc mắc làm thú vị
Lấy
ma quân làm bạn đạo
Lấy
khó khăn làm thích thú
Lấy
kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ
Lấy
người chống đối làm nơi gia du
Coi thi
ân như đôi dép bỏ
Lây sự
xả lợi làm vinh hoa
Lấy
oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.
Nên
chấp thuận trở ngại thì thông suốt, mà mong cầu thông suốt
thì sẽ bị trở ngại. Đức Thế Tôn thực hiện tuệ giác
bồ đề ngay trong sự trở ngại, như Ương -Quật hành hung,
Đề-Bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như
vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận
lợi và sự phá hoại laị làm sự tác thành cho ta?
Ngày
nay, những người học đạo, trước hết không dấn mình vào
trong mọi sự tri73 ngại, nên khi trở ngại áp đến thì không
thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng
tiếc đáng hận biết ngần nào!
Luận
Bảo Vương Tam Muội
PHẬT NGÔN
Sau
khi ta nhập Niết bàn, các con hãy lấy Giới Luật của Ta làm
Thầy. Giới Luật còn là Ta còn vậy.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn
Xin
nguyện đem công đức ấn tống kinh này hồi hướng cho Nhứt
Thiết Pháp Giới Chúng Sanh Đồng Văn Phật Giáo, Đồng Kiến
Phật Kinh, Đồng Ngộ Phật Tâm, Đồng Thành Phật Đạo.
Nam
Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
Xem
Thêm:
*Kinh
Phật Thuyết A Di Ðà, Ban Việt Dịch, Vạn Phật Thánh Thành